Đào tạo nghề người yếu thế: định nghĩa lại mục tiêu từ chứng chỉ sang sinh kế bền vững
Đào tạo nghề người yếu thế là quá trình cung cấp kỹ năng nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động cho người nghèo, cận nghèo, người khuyết tật và cư dân vùng khó khăn, với mục tiêu không chỉ cấp chứng chỉ mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập và giúp họ hình thành sinh kế bền vững ngay tại cộng đồng. Đã đến lúc chấm dứt cách nghĩ coi khóa học nghề là một hoạt động hỗ trợ hình thức, đo bằng số lớp mở ra và số chứng chỉ phát ra. Giá trị thật sự phải là số người có việc làm, có thể tự tạo việc làm và thoát nghèo lâu dài nhờ kỹ năng đã học, chứ không phải bằng những tờ giấy công nhận năng lực nhưng không gắn với cơ hội việc làm.
Câu chuyện của chị Ngô Thị Lan ở xã Văn Thắng, Ninh Bình là một minh chứng rõ ràng cho sự dịch chuyển này: từ lao động thời vụ bấp bênh, chị tham gia lớp học nghề sơn mài tại làng nghề Cát Đằng, được hướng dẫn kỹ thuật và dần tham gia sản xuất sản phẩm sơn mài tại địa phương. Khi đào tạo bám sát thế mạnh làng nghề, một lao động trẻ ở gần chuẩn nghèo có thể chuyển từ “làm thuê theo mùa” sang “có nghề, có việc làm ổn định”, với thu nhập hàng tháng đạt từ 7–8 triệu đồng. Đó là kết quả mà bất kỳ chương trình đào tạo nghề người yếu thế nào cũng phải lấy làm thước đo, thay vì tự hài lòng với số buổi học và bài thi kết thúc khóa.

Từ lớp học đến nhà máy và làng quê: khi sinh kế bền vững trở thành trung tâm
Điểm cốt lõi của sinh kế bền vững là tính ổn định và khả năng tự chủ của người lao động. Đào tạo nghề chỉ là mắt xích đầu tiên trong cả chuỗi; nếu tách rời việc làm và thị trường, nó nhanh chóng biến thành một dạng hỗ trợ ngắn hạn, không đủ lực chống chọi lại vòng xoáy nghèo đói. Mô hình ở xã Đông Thịnh, Ninh Bình cho thấy điều ngược lại: chính quyền chủ động liên kết với cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để mở các lớp nghề may công nghiệp, chăn nuôi công nghệ cao, dệt thủ công – toàn những nghề có nhu cầu tuyển dụng rõ ràng.
Nhờ cách làm đó, đến cuối năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Đông Thịnh dự kiến đạt 86,9%, hơn 200 người có việc làm mới trong năm, với nhà máy may Nghĩa Thịnh tạo việc làm thường xuyên cho gần 200 lao động, thu nhập trung bình từ 9–13 triệu đồng/người/tháng, ưu tiên cả người nghèo và người khuyết tật. Đồng thời, tỷ lệ hộ nghèo dự báo xuống chỉ còn 0,86%, thu nhập bình quân đạt 75 triệu đồng/người/năm. Những con số này cho thấy: khi đào tạo gắn với nhu cầu tuyển dụng và thế mạnh địa phương, sinh kế bền vững không phải khẩu hiệu, mà là kết quả có thể đo đếm được.

Người khuyết tật và lao động vùng khó khăn: việc làm không tự đến sau tờ chứng chỉ
Với người khuyết tật và cư dân vùng sâu, vùng xa, rào cản việc làm không dừng ở kỹ năng nghề. Họ thiếu thông tin, thiếu tiền đi lại, sức khỏe hạn chế và dễ bỏ dở giữa chừng. Nếu đào tạo nghề vùng khó khăn chỉ tập trung vào nội dung trên lớp, bỏ quên những trở ngại rất đời thường ấy, kết quả thực tế sẽ khác xa mục tiêu giảm nghèo. Trường dạy nghề Thanh Hóa dành cho thanh niên khuyết tật và yếu thế đã buộc phải điều chỉnh: chọn nghề phù hợp từng nhóm, kết hợp dạy nghề với kiến thức phổ thông, đồng thời miễn học phí cho học viên là người khuyết tật, gia đình khó khăn và dân tộc thiểu số.
Sau khóa học, nhà trường không dừng ở việc cấp chứng chỉ mà còn tư vấn, giới thiệu việc làm để học viên vào làm tại nhà máy, doanh nghiệp, tự nuôi sống bản thân và hỗ trợ gia đình. Nghĩa Thịnh – một nhà máy may tại Đông Thịnh – cũng ưu tiên tuyển dụng người khuyết tật, vừa tổ chức đào tạo tại chỗ, vừa trả lương ổn định. Nhưng nỗ lực của vài trường nghề và doanh nghiệp là chưa đủ. Như đề xuất của lãnh đạo trường Thanh Hóa, cần sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, doanh nghiệp và hệ thống đào tạo để đầu tư cơ sở vật chất, thiết kế chương trình chuyên biệt cho người khuyết tật. Nếu không, trên tay họ vẫn là chứng chỉ, còn ngoài cổng nhà máy vẫn là những cánh cửa đóng kín.

Đào tạo vùng khó khăn: phải bắt đầu từ thị trường lao động, không phải từ giáo án
Kinh nghiệm từ một trường cao đẳng ở Vĩnh Long cho thấy: mở lớp rồi ngồi chờ người học đăng ký là cách làm lạc hậu, đặc biệt với người nghèo và lao động nông thôn. Họ phải đi làm để trang trải cuộc sống, khó xoay xở thời gian lẫn chi phí đi lại, ăn ở khi học tập. Bởi vậy, đào tạo vùng khó khăn phải đi ngược chiều: xuất phát từ khảo sát trực tiếp ở địa phương, nắm nhu cầu việc làm, chọn nghề phù hợp điều kiện sản xuất và khả năng tìm việc của người học. Chương trình cần cô đọng, thực hành cao, thời gian linh hoạt, địa điểm gần dân.
Đặc biệt, với vùng khó khăn, việc chọn nghề phải ưu tiên những lĩnh vực có thể tạo việc làm tại chỗ hoặc giúp người học tự tạo việc làm, gắn với thế mạnh kinh tế của mỗi địa bàn. Nhiều địa phương đã triển khai các dự án phát triển đào tạo nghề tại vùng nghèo, vùng khó, song song với chính sách an sinh và hỗ trợ việc làm, giúp người dân nâng năng lực và chủ động cải thiện cuộc sống. Tuy vậy, nếu khâu kết nối sau đào tạo – như liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp, nguồn vốn và đầu ra sản phẩm – không được xây dựng thành hệ thống, các khóa đào tạo sẽ tiếp tục loay hoay trong vòng tròn quen thuộc: lớp khai giảng rầm rộ, chứng chỉ phát đều tay, còn sinh kế bền vững vẫn là một mục tiêu xa.
Từ hỗ trợ học nghề đến hỗ trợ cả chuỗi sinh kế: kết luận cho một hướng đi mới
Hai câu chuyện – một ở Ninh Bình, một ở Vĩnh Long và Thanh Hóa – cùng dẫn tới một kết luận: với người yếu thế, hiệu quả đào tạo không thể đo bằng số lượng chứng chỉ. Giá trị của mỗi khóa học phải được thể hiện bằng khả năng giúp người học có việc làm, tự tạo việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống. Nghĩa là, chúng ta phải chuyển từ tư duy “hỗ trợ học nghề” sang “hỗ trợ cả chuỗi sinh kế”: sau đào tạo phải nối tiếp bằng khâu giới thiệu việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp, tiếp cận doanh nghiệp, hợp tác xã, tín dụng và nguồn lực sản xuất phù hợp.
Một tỉnh đã bắt đầu chuẩn hóa chương trình theo Khung trình độ quốc gia, nâng tỷ lệ thực hành, ứng dụng công nghệ số và siết chặt liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp, đặc biệt trong các khu công nghiệp. Cùng với đó là các chính sách hỗ trợ đào tạo cho thanh niên, lao động nông thôn, người nghèo và các đối tượng chính sách. Những bước đi này cần được nhân rộng, nhưng chỉ phát huy tác dụng nếu mọi bên – nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và cộng đồng – cùng thống nhất một tiêu chí chung: đào tạo nghề người yếu thế phải dẫn tới sinh kế bền vững. Đó không phải là mục tiêu phụ, mà là thước đo duy nhất đáng để chúng ta bỏ tiền, bỏ công và đặt kỳ vọng.






