Tây Ninh chọn năng lượng tái tạo làm trục phát triển mới
Năng lượng tái tạo Tây Ninh là chiến lược phát triển dựa trên lợi thế nắng, gió, quỹ đất và mặt nước hồ Dầu Tiếng, nhằm mở rộng nguồn điện sạch, bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng xanh Việt Nam và giảm phát thải, qua đó tạo động lực cạnh tranh mới cho công nghiệp và kinh tế địa phương.
Điểm mấu chốt là Tây Ninh không coi năng lượng tái tạo chỉ là “dự án điện”, mà là trụ cột phát triển. Nghị quyết 70-NQ/TW đặt yêu cầu năng lượng phải đi trước một bước trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, và Tây Ninh đang nắm bắt sớm tinh thần này. Từ khai thác hiệu quả các nguồn điện hiện hữu đến mở rộng không gian đầu tư trên đất liền và mặt nước, tỉnh đang định hình một cấu trúc năng lượng mới gắn chặt với tăng trưởng xanh.
Quan điểm cần nhấn mạnh: nếu Tây Ninh triển khai nhất quán, năng lượng tái tạo sẽ không chỉ giải bài toán điện cho công nghiệp, mà còn tái định vị hình ảnh địa phương như một trung tâm tăng trưởng xanh, thay vì chỉ là vùng phụ cận của các cực công nghiệp lân cận.
Từ tiềm năng nắng, gió, hồ Dầu Tiếng đến hệ sinh thái điện sạch
Nghị quyết 70-NQ/TW mở ra định hướng rõ ràng để Tây Ninh phát huy lợi thế về nắng, gió và mặt nước, phát triển năng lượng tái tạo gắn với bảo đảm an ninh năng lượng, tăng trưởng xanh và giảm phát thải. Khác với nhiều địa phương còn loay hoay, Tây Ninh đã nhanh chóng chuyển lợi thế tự nhiên thành công suất điện cụ thể: 19 nhà máy năng lượng tái tạo đấu nối lưới 220 kV và 110 kV với tổng công suất 1.201,4 MW.
Cùng với đó là 6.810 hệ thống điện mặt trời mái nhà theo cơ chế giá FIT với 650,92 MW, 729 hệ thống tự sản xuất, tự tiêu thụ với 296,65 MW, hai nhà máy thủy điện nhỏ 3 MW và một nhà máy điện sinh khối 37 MW, đưa tổng công suất các nguồn điện tại chỗ lên khoảng 2.188,97 MW. Đây không còn là “tiềm năng trên giấy”, mà là một hệ sinh thái điện gió mặt trời và sinh khối đang vận hành.
Điện mặt trời mái nhà lan rộng trong doanh nghiệp và hộ dân, với 7.761 hệ thống, tổng công suất 951 MW, trong đó 915 hệ thống tự sản xuất, tự tiêu thụ đạt 272 MW. Việc tận dụng diện tích mái nhà sẵn có giúp doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và người dân chủ động nguồn điện tại chỗ, đa dạng hóa nguồn cung, giảm áp lực cho hệ thống điện trong những thời điểm phụ tải tăng cao.
Chiến lược đồng bộ: từ nguồn hiện hữu đến không gian đầu tư mới
Điểm đáng chú ý trong chiến lược năng lượng tái tạo Tây Ninh là cách tỉnh đi theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh, thay vì phát triển manh mún. Ngành công thương đang rà soát danh mục dự án theo quy hoạch, đôn đốc tiến độ các dự án đã có chủ đầu tư, tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai và đấu nối lưới điện để khai thác hiệu quả các nguồn điện hiện hữu.
Trong giai đoạn 2025-2030, danh mục điện mặt trời tập trung của tỉnh có 7 dự án với tổng công suất 718 MW. Đồng thời, Tây Ninh kiến nghị điều chỉnh khoảng 1.250 MW điện mặt trời từ giai đoạn 2031-2035 sang 2026-2030, và đề xuất hướng dẫn thủ tục cho các dự án điện mặt trời nổi, hệ thống lưu trữ năng lượng và điện khí LNG đồng phát. Đây là lựa chọn mang tính chủ động: đẩy nhanh tiến độ để nắm lợi thế sớm trong bối cảnh cạnh tranh nguồn điện sạch ngày càng gay gắt.
Tỉnh cũng nghiên cứu khai thác mặt nước hồ Dầu Tiếng, đất bán ngập và các khu vực khai thác vật liệu đã dừng hoạt động để phát triển năng lượng tái tạo, chú trọng điện mặt trời nổi gắn với bảo vệ môi trường và an toàn nguồn nước. Cách tiếp cận này cho thấy Tây Ninh đang mở rộng không gian đầu tư trên cả đất liền và mặt nước, thay vì chỉ trông vào quỹ đất khô hạn ngày càng đắt đỏ.
Dầu Tiếng 5 và DPPA: phép thử cho mô hình tăng trưởng xanh
Biểu tượng rõ nhất cho tham vọng tăng trưởng xanh Việt Nam tại Tây Ninh là Nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng 5. Dự án được khởi công tại khu vực bán ngập hồ Dầu Tiếng, xã Dương Minh Châu, với công suất 450 MW và dự kiến vận hành thương mại vào tháng 12/2027, cung cấp hơn 808 triệu kWh điện mỗi năm cho hệ thống điện quốc gia. Đây là dự án điện mặt trời có quy mô công suất lớn nhất trên địa bàn tỉnh đến nay.
Theo ông Tô Dũng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty CP Xuân Cầu Holdings, Nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng 5 là một trong những dự án đầu tiên áp dụng cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA). Cơ chế này cho phép đơn vị phát điện cung cấp nguồn điện xanh trực tiếp cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng điện lớn, qua đó thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu giảm phát thải trong chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, phát triển điện mặt trời tại khu vực bán ngập hồ Dầu Tiếng không thể đánh đổi môi trường: dự án phải gắn với bảo vệ nguồn nước, hệ sinh thái và an toàn công trình thủy lợi. Nếu Tây Ninh xử lý tốt bài toán này, Dầu Tiếng 5 sẽ là minh chứng rằng tăng công suất điện gió mặt trời vẫn có thể đi cùng bảo tồn tài nguyên nước – một thông điệp quan trọng cho các dự án năng lượng trên mặt nước sau này.
An ninh năng lượng, luật mới và bài toán thực thi
Nghị quyết 70-NQ/TW khẳng định bảo đảm an ninh năng lượng là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Tây Ninh đang biến yêu cầu này thành hành động thông qua việc đa dạng hóa nguồn cung: ngoài điện mặt trời, tỉnh định hướng phát triển điện gió, điện sinh khối, điện rác và điện khí LNG đồng phát.
Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đánh dấu bước chuyển từ cơ chế khuyến khích sang quy định bắt buộc, gắn với các chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Điều này đặt doanh nghiệp và chính quyền địa phương trước áp lực mới: không chỉ tạo thêm nguồn điện sạch, mà còn phải sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong mọi khâu.
Tây Ninh đã kiến nghị bổ sung 40 MW công suất cho dự án điện rác công nghệ Hà Lan tại xã Đông Thành và đề xuất sớm ban hành cơ chế phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng để khai thác hiệu quả các nguồn điện, bảo đảm tính đồng bộ của hạ tầng năng lượng. Đây là hướng đi đúng, nhưng thách thức nằm ở chỗ: nếu cơ chế, thủ tục không được cải cách đủ nhanh, lợi thế nắng, gió và hồ Dầu Tiếng có nguy cơ bị chậm chuyển hóa thành tăng trưởng thực.






