Chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn: khoảng cách giữa văn bản và lớp học
Chính sách hỗ trợ học sinh là tập hợp các chế độ ăn, ở, học tập, bán trú và nội trú được Nhà nước thiết kế cho học sinh có hoàn cảnh khó, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, bãi ngang ven biển và hải đảo, nhằm bảo đảm các em không bị bỏ lại phía sau trong tiếp cận giáo dục và phúc lợi cơ bản. Điểm mấu chốt của câu chuyện hiện nay là: những quy định trên giấy đang bộc lộ khoảng trống khi đi vào đời sống lớp học vùng cao. Ngày 08/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn 9122/VPCP-KGVX, truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về việc rà soát lại toàn bộ chính sách dành cho trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn. Đây không phải động thái kỹ thuật thuần túy, mà là tín hiệu thừa nhận rằng các tiêu chí hiện hành chưa theo kịp thực tế học sinh vùng khó khăn.

Nghị định 66/2025 và yêu cầu “nhìn thấy độ khó” của từng địa bàn
Theo Công văn 9122, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cùng các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 66/2025/NĐ-CP. Nghị định này là khung chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, nhưng chính các trường vùng cao đang chỉ ra những lỗ hổng: tiêu chí chủ yếu dựa trên địa giới hành chính, trong khi "độ khó" của mỗi xã, thôn lại được quyết định bởi khoảng cách đến trường, giao thông, địa hình và mức độ nghèo của từng gia đình. Tại Trường PTDTBT THCS Na Son với hơn 1.300 học sinh, phân hiệu Keo Lôm có khoảng 140 em ở cách trường 3–5 km, nhiều em không thể đi về trong ngày và phải ăn mì tôm chờ buổi học chiều. Những em như thế lại có nguy cơ “lọt lưới” nếu chỉ nhìn vào nhãn xã biên giới hay không, thay vì điều kiện sống cụ thể.

Giáo dục vùng cao cần chính sách ổn định, không thay đổi mỗi năm học
Người làm giáo dục vùng cao hiểu rõ rằng chính sách hỗ trợ học sinh không chỉ là vài khoản trợ cấp, mà là nền tảng để tổ chức cả một hệ thống trường nội trú, bán trú giúp học sinh vùng khó khăn yên tâm ở lại trường. Hiệu trưởng các trường PTDTBT cho biết, kế hoạch ăn, ở, sinh hoạt của học sinh phải được chuẩn bị từ đầu năm học; giáo viên không dừng ở giờ lên lớp mà còn quản lý đời sống, bếp ăn, sức khỏe và chăm sóc tinh thần cho các em. Vì vậy, một chính sách giáo dục vùng cao thiếu rõ ràng, liên tục điều chỉnh, hoặc chậm hướng dẫn triển khai sẽ khiến nhà trường lúng túng, phụ huynh mất niềm tin và học sinh có hoàn cảnh khó dễ bỏ học giữa chừng. Theo Công văn 9122, kết quả rà soát, nghiên cứu sửa đổi Nghị định 66/2025/NĐ-CP phải được báo cáo Chính phủ, Thủ tướng trong tháng 11/2026 – một mốc thời gian cho thấy áp lực phải sớm tạo ra khung chính sách ổn định hơn.

Không để học sinh có hoàn cảnh khó bị bỏ quên ngoài ranh giới chính sách
Thực tế ở các địa phương miền núi cho thấy một nghịch lý: nhiều học sinh không thuộc diện được hưởng chính sách trên giấy, nhưng điều kiện đi lại, nhà xa trường và kinh tế gia đình lại khiến việc duy trì học tập trở thành thử thách ngày nào cũng phải vượt qua. Một số tỉnh đã kiến nghị mở rộng chính sách hỗ trợ tới những xã không phải địa bàn biên giới nhưng còn rất khó khăn, có đông học sinh dân tộc thiểu số, nhà ở xa trường, đi lại nguy hiểm. Những đề xuất này thể hiện yêu cầu cấp thiết: chính sách hỗ trợ học sinh phải bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, không “khoanh vùng hưởng lợi” bằng một danh mục cứng nhắc. Đặc biệt, trước mắt, các địa phương được yêu cầu chủ động huy động, bố trí nguồn lực hợp pháp để bảo đảm các điều kiện thiết yếu về ăn, ở và học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn ngay từ đầu năm học 2026–2027, thay vì chờ đợi hoàn toàn vào ngân sách Trung ương.

Từ chỉ đạo Trung ương đến hành động của địa phương: không để chỉ là kỳ vọng
Chỉ đạo rà soát chính sách giáo dục vùng cao mở ra một kỳ vọng quan trọng, nhưng kỳ vọng chỉ có ý nghĩa nếu đi kèm trách nhiệm cụ thể ở từng cấp. Công văn 9122 yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát toàn diện việc thực hiện chính sách hỗ trợ trẻ em, học sinh, sinh viên; kịp thời hướng dẫn địa phương triển khai, tháo gỡ khó khăn và bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế, đúng thẩm quyền. Đây là thông điệp rõ ràng: nếu học sinh vùng khó khăn vẫn bỏ học vì thiếu tiền ăn bán trú, thiếu chỗ ở an toàn hoặc không được hưởng hỗ trợ chỉ vì “thiếu một tiêu chí”, thì lỗi không nằm ở các em, mà ở hệ thống chính sách và thực thi. Muốn giữ học sinh có hoàn cảnh khó ở lại trường, chính sách giáo dục vùng cao phải đi trước một bước – nhìn thấy độ khó ở từng bản làng, chứ không dừng ở ranh giới hành chính.






