An toàn là điều kiện để phụ nữ có cơ hội số
An toàn mạng phụ nữ là tập hợp các biện pháp pháp lý, tổ chức và kỹ năng giúp phụ nữ được bảo vệ trước rủi ro trực tuyến, đồng thời có điều kiện tham gia và phát triển bình đẳng trong môi trường số. Hai chương trình diễn ra tại Hà Nội ngày 27 và 28/10 cùng đặt ra một điểm đáng chú ý: bảo vệ khỏi tổn hại và mở rộng cơ hội không thể tách rời.
Sáng 28/10, Chi hội Nữ trí thức Trường Đại học Luật Hà Nội phối hợp với Ban Nữ công tổ chức hội thảo khoa học trọng điểm về pháp luật bảo đảm an toàn và cơ hội phát triển cho phụ nữ trong kỷ nguyên số. Hội thảo đánh giá pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước rủi ro từ chuyển đổi số, xem xét kinh nghiệm quốc tế và bàn giải pháp hoàn thiện chính sách, nâng hiệu quả thực thi.
Phát biểu khai mạc, Phó Hiệu trưởng Hoàng Xuân Châu nhấn mạnh rằng quấy rối hoặc xâm phạm hình ảnh, dữ liệu cá nhân có thể khiến phụ nữ ngừng lên tiếng hay từ bỏ công việc. Vì vậy, quyền phụ nữ số không chỉ là được tránh tổn hại: còn là khả năng lựa chọn, tiếp cận nguồn lực, đóng góp ý kiến và được ghi nhận trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.

Từ trách nhiệm pháp lý đến quyền được ngắt kết nối
Một điểm thẳng thắn tại hội thảo là lời khuyên người dùng cẩn trọng trên mạng chưa đủ sức giải quyết các vụ phát tán hình ảnh hay xâm phạm đời tư. Người bị hại cần biết tìm hỗ trợ ở đâu, có đầu mối tiếp nhận và quy trình xử lý rõ ràng; nếu họ phải tự lần tìm nơi giải quyết và tự gánh việc chứng minh, trách nhiệm bảo vệ đang bị đẩy về phía người chịu tổn hại. Các đại biểu cũng bàn việc làm rõ vai trò của Nhà nước, nền tảng số và tổ chức liên quan.
Hội thảo có 31 bài tham luận đã qua phản biện; hơn 90 hội viên nữ trí thức cùng giảng viên, sinh viên và đại biểu tham dự. Trong số các nội dung được bàn, PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh đề cập quyền được ngắt kết nối nhằm hỗ trợ cân bằng công việc và gia đình. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa ghi nhận trực tiếp quyền này. Nhóm tác giả nêu kinh nghiệm của Pháp, Tây Ban Nha, Australia và định hướng của Liên minh châu Âu, đồng thời đề xuất đối thoại, thương lượng tập thể về liên lạc ngoài giờ, có sự tham gia thực chất của lao động nữ.
Đây không phải cơ chế tự động bảo đảm bình đẳng giới: cách quy định ngoại lệ, tính đến trách nhiệm chăm sóc gia đình và ngăn bất lợi về đánh giá, thù lao hay thăng tiến đều quan trọng. Hội thảo cũng lưu ý cơ hội số không nên chỉ đo bằng số phụ nữ tiếp cận công nghệ, mà cần xét tiếng nói và mức độ ghi nhận của họ.
Ngày hội kết hợp kỹ năng số và cảnh giác trực tuyến
Ngày 27/10, Trung ương Hội LHPN Việt Nam tổ chức “Ngày hội Phụ nữ với chuyển đổi số và an toàn trên không gian mạng”, kết hợp trực tiếp với trực tuyến trên nền tảng số của Hội. Chương trình có hơn 200 hội viên, phụ nữ Thủ đô tham dự và hàng nghìn hội viên theo dõi qua sóng trực tiếp. Quy mô này cho thấy chuyển đổi số phụ nữ vừa là nội dung chính sách, vừa cần được đưa đến các hội viên qua hoạt động cụ thể.
Phó Chủ tịch Hội Nguyễn Thị Minh Hương nêu hai mặt của công nghệ, trong đó có trí tuệ nhân tạo: cơ hội nâng cao tri thức, phát triển kinh tế và làm chủ cuộc sống đi cùng nguy cơ thông tin sai lệch, lộ dữ liệu cá nhân và gian lận mạng. Theo số liệu Bộ Công an bà dẫn, có khoảng 1.800 vụ lừa đảo trực tuyến trong chín tháng đầu năm 2026. Hội xác định chuyển đổi số toàn diện là một trong ba khâu đột phá nhiệm kỳ 2026–2031, đặt mục tiêu đến cuối nhiệm kỳ ít nhất 80% hội viên và 60% phụ nữ đạt chuẩn năng lực số công dân.
Tọa đàm quy tụ chuyên gia, nhà quản lý và cán bộ Hội. TS. Trịnh Ngọc Trúc khuyến khích người mới làm quen với AI qua việc gần gũi như soạn văn bản, quảng bá nông sản hay tổ chức công việc, đồng thời nhắc người dùng phải tự kiểm tra kết quả. Trung tá Trịnh Thùy Dung nêu công thức “Chậm lại 30 giây, 3 không, 2 hỏi, 1 sẻ chia”; trong đó, 3 không gồm không tin tuyệt đối hình ảnh, âm thanh trên mạng, không mở đường dẫn hoặc cài ứng dụng không rõ nguồn gốc, không chia sẻ mã OTP hay mật khẩu.

Bảo vệ quyền và năng lực phải đi cùng nhau
Hai chương trình bổ sung cho nhau nhưng không thay thế nhau. Ngày hội tập trung vào kỹ năng thực hành, kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu và cách tiếp cận công nghệ; hội thảo đặt trọng tâm vào trách nhiệm pháp lý, cơ chế xử lý vi phạm và điều kiện phát triển nghề nghiệp. Với phụ nữ trên mạng, chỉ nhấn mạnh tự cảnh giác sẽ bỏ sót câu hỏi ai có trách nhiệm khi quyền riêng tư bị xâm phạm. Ngược lại, quy định pháp luật khó phát huy nếu người dùng không biết cách nhận diện rủi ro.
Hội LHPN Việt Nam cũng nêu việc đưa kỹ năng số vào sinh hoạt thường kỳ, phát huy mạng lưới đại sứ chuyển đổi số và hỗ trợ hội viên khi gặp sự cố. Mô hình “Bình dân học vụ số” được nhắc đến như cách hướng dẫn trực tiếp, dễ hiểu, dễ thực hành. Đây là các hoạt động và định hướng được nêu tại chương trình, không nên đánh đồng với bằng chứng rằng mọi phụ nữ đã có khả năng tiếp cận hỗ trợ như nhau.
Kết luận đáng giữ lại từ hai sự kiện là an toàn không thể chỉ đặt lên vai từng phụ nữ, còn cơ hội không thể dừng ở việc được kết nối. Cần nhìn đồng thời vào kỹ năng, trách nhiệm của các chủ thể và khả năng lên tiếng, làm việc, đóng góp mà không phải chấp nhận rủi ro như cái giá mặc định của hiện diện số. Đó mới là thước đo có ý nghĩa cho một môi trường số bao gồm phụ nữ.







