Kết nối chuỗi cung ứng phải vượt khỏi thương mại hàng hóa
Chuỗi cung ứng Việt Trung là mạng lưới phối hợp giữa doanh nghiệp hai nước về nguyên liệu, sản xuất, công nghệ, vận tải và phân phối, nhằm đưa hàng hóa qua nhiều công đoạn tạo giá trị thay vì chỉ trao đổi thành phẩm. Đây là hướng hợp tác cần thiết khi chuỗi công nghiệp toàn cầu đang tái cơ cấu nhanh, còn các chuỗi giá trị ngày càng khu vực hóa, số hóa và xanh hóa. Ngày 29/10, Hội thảo Việt Nam - Trung Quốc về kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, do Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tại TP.HCM phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.HCM và Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam - Chi hội TP.HCM tổ chức. Trọng tâm ấy phản ánh một chuyển dịch đúng hướng: doanh nghiệp cần liên kết các khâu sản xuất, cảng biển, vận tải, tài chính và thị trường thay vì xem thương mại hay đầu tư là đích đến tự thân.
Quy mô giao thương cho thấy cơ hội đã có, nhưng kim ngạch lớn không tự động đưa doanh nghiệp Việt Nam lên những nấc cao hơn của chuỗi giá trị. Muốn vậy, hợp tác doanh nghiệp phải biến tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế thành đơn hàng, năng lực nhà cung ứng và tri thức sản xuất có thể giữ lại trong nước. Nếu thiếu liên kết thực chất, doanh nghiệp trong nước có nguy cơ chỉ đứng ở những khâu gia công hoặc cung ứng có giá trị thấp.

Ba hướng hợp tác: sản xuất, logistics và công nghệ
TP.HCM đề xuất ba hướng có liên hệ chặt chẽ: tăng cường liên kết sản xuất và năng lực tham gia chuỗi giá trị; nâng hiệu quả kết nối cảng biển, giao thông và logistics; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp. Đây không nên là ba danh mục rời nhau. Nhà cung ứng chỉ có thể nhận đơn hàng ổn định khi quy trình đạt chuẩn, hàng hóa được vận chuyển đúng hạn và công nghệ phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
Trong kết nối sản xuất, cơ hội nằm ở các lĩnh vực như sản xuất tiên tiến, điện tử, công nghệ thông tin, năng lượng xanh và công nghiệp hỗ trợ. Doanh nghiệp hai nước có thể liên kết các khâu thượng nguồn, hạ nguồn, chuyển giao công nghệ, cải thiện quản lý quy trình và kiểm soát chất lượng, đồng thời đào tạo nhân lực. Nhưng chuyển giao không nên dừng ở việc đưa thiết bị vào nhà máy: năng lực vận hành, bảo trì và cải tiến phải được xây dựng tại chỗ để doanh nghiệp Việt Nam có thể tiến lên công đoạn giá trị cao hơn.
Ở logistics Việt Trung, ưu tiên gồm vận tải đa phương thức, cửa khẩu thông minh và kho lạnh; các giải pháp này có thể giảm điểm nghẽn xuyên biên giới, rút ngắn thời gian và hạ chi phí thương mại. Chuẩn hóa hành lang vận tải, chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp và đầu tư kho bãi, trung tâm logistics thông minh cũng cần được đặt cạnh ứng dụng AI, tự động hóa và năng lượng xanh. Lợi ích sẽ đến cả với nhà sản xuất, người xuất nhập khẩu và người tiêu dùng qua luồng hàng ổn định hơn, ít chậm trễ hơn.

TP.HCM có thể làm đầu mối, nhưng kết quả nằm ở triển khai
TP.HCM có lợi thế kết nối trung tâm thương mại, công nghiệp và hệ thống cảng biển; thành phố cũng xác định mục tiêu nâng năng lực nhà cung ứng, mở rộng ứng dụng công nghệ và phát triển hạ tầng giao thông, cảng biển, logistics. Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải là một trong những điểm được nêu trong định hướng hợp tác, cùng với logistics thông minh và xanh để rút ngắn vận chuyển. Vai trò của thành phố vì thế không chỉ là mời gọi đầu tư, mà còn là tạo điều kiện để doanh nghiệp, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ vận hành như một hệ thống.
Tuy nhiên, thông điệp đúng đắn chưa đủ. Doanh nghiệp cần xác định rõ nhu cầu về sản phẩm, công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật, chọn đối tác phù hợp, đồng thời liên thông dữ liệu giữa nhà máy, vận tải, kho bãi và cảng. Cải cách thủ tục, thông quan hiệu quả hơn và phối hợp xử lý điểm nghẽn logistics sẽ quyết định liệu cơ hội có chuyển thành giao dịch thực tế hay không.
Cách làm nên bắt đầu bằng dự án thí điểm có mục tiêu đo được, rồi mới mở rộng khi các bên chứng minh được hiệu quả. Một khung hành động hữu ích là trả lời lần lượt: nhu cầu hợp tác là gì, đối tác nào đáp ứng được, điều kiện triển khai ra sao và đầu mối nào chịu trách nhiệm phối hợp.

Đo hợp tác bằng giá trị doanh nghiệp nhận được
Thước đo thành công không nên chỉ là thêm cuộc gặp hay tăng kim ngạch. Cần nhìn vào số cơ hội giao thương được hình thành, quan hệ đối tác đi vào hoạt động và sáng kiến có thể triển khai; đó cũng là tiêu chí được lãnh đạo thành phố nhấn mạnh tại hội thảo. Với doanh nghiệp Việt Nam, câu hỏi cốt lõi là liệu nhà cung ứng có nâng được chất lượng, kỹ năng và tỷ trọng giá trị giữ lại hay không. Với đối tác Trung Quốc, lợi ích phải đến từ mạng lưới cung ứng đáng tin cậy, vận hành hiệu quả và khả năng tiếp cận thị trường.
Do đó, hợp tác cần minh bạch về tiêu chuẩn, quyền sử dụng công nghệ, trách nhiệm đào tạo và cơ chế chia sẻ dữ liệu. Chính quyền có thể cải thiện môi trường kinh doanh và tháo gỡ vướng mắc hạ tầng, nhưng doanh nghiệp phải chủ động đưa ra nhu cầu cụ thể và đầu tư vào năng lực tiếp nhận. Kết nối sản xuất chỉ tạo lợi thế bền vững khi các bên cùng chịu trách nhiệm cho kết quả, chứ không dừng ở cam kết chung.
Diễn đàn đã đặt đúng trọng tâm: sản xuất, logistics và công nghệ phải được kết nối thành một chuỗi vận hành liền mạch. Bước tiếp theo là biến định hướng thành các dự án có mục tiêu, đối tác và trách nhiệm rõ ràng. Khi ấy, chuỗi cung ứng Việt Trung mới có thể giúp doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào mạng lưới khu vực và toàn cầu, thay vì chỉ làm hàng hóa lưu chuyển nhanh hơn.







