Đào tạo luật sư là quá trình chuẩn bị năng lực hành nghề
Đào tạo luật sư là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời rèn khả năng vận dụng pháp luật để xử lý công việc thực tế và bảo vệ quyền lợi khách hàng. Đây phải là một lộ trình thống nhất, không phải những chặng rời nhau giữa lớp học, tập sự và kỳ thi. Dự thảo Luật Luật sư sửa đổi đặt ra yêu cầu mới đối với đào tạo, tập sự hành nghề và kỳ thi quốc gia để cấp chứng chỉ hành nghề. Động lực cải cách đã rõ: chuyển đổi số cùng những thay đổi sâu rộng trong đời sống và hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi luật sư có năng lực thích ứng, chứ không chỉ thuộc quy định. Trong hai thập kỷ thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi năm 2012, mô hình đào tạo tập trung do Bộ Tư pháp quản lý đã vận hành với sự tham gia của nhiều chủ thể. Giờ đây, điều cần đánh giá không chỉ là chương trình dạy gì, mà còn là người học làm được gì.

Từ kiến thức trên giấy đến năng lực xử lý hồ sơ
Khoảng cách giữa “luật trên giấy” và “luật trong đời sống” là phép thử của mọi mô hình đào tạo. Học viên có thể nắm chắc điều khoản nhưng vẫn lúng túng trước một tập hồ sơ phức tạp hoặc phiên tòa căng thẳng. Vì vậy, bài giảng cần đưa người học vào tình huống nghề nghiệp: phân tích chứng cứ, xác định vấn đề pháp lý, xây dựng phương án tư vấn và trình bày lập luận. Những vụ việc thực tế có thể trở thành bài tập tình huống sau khi thông tin bảo mật được mã hóa, giúp giờ học kỹ năng giống một buổi tập dượt. Đây không phải cách thay lý luận bằng kinh nghiệm kể lại; lý luận giúp kiểm tra và chuẩn hóa giải pháp, còn thực hành cho thấy quy tắc vận hành ra sao dưới áp lực thời gian, dữ kiện thiếu hụt và lợi ích đối lập. Đào tạo luật sư chỉ đáng tin khi người học được luyện cách suy nghĩ và hành động, không chỉ được kiểm tra khả năng nhớ luật.

Nối đào tạo với tập sự, phân rõ trách nhiệm
Tách đào tạo khỏi tập sự hành nghề khiến người học thiếu sự tiếp nối về chuyên môn, kỹ năng và chuẩn mực nghề nghiệp. Cách quy kết kết quả kiểm tra tập sự cho riêng cơ sở đào tạo cũng bỏ qua năng lực cá nhân, chất lượng hướng dẫn và trách nhiệm của tổ chức hành nghề. Mô hình hợp lý hơn cần xem đây là hai giai đoạn gắn chặt: cơ sở đào tạo đảm nhiệm kiến thức, kỹ năng và đạo đức; tổ chức hành nghề hướng dẫn, quản lý việc thực hành. Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư cần có nhiệm vụ cụ thể, cơ chế phối hợp minh bạch và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Việc làm rõ vai trò không phải thủ tục hành chính; đó là điều kiện để biết người tập sự được hướng dẫn ra sao và ai chịu trách nhiệm khi chất lượng đào tạo không đạt yêu cầu.

Luật sư giảng dạy và kỳ thi cần cùng hướng tới năng lực
Luật sư kiêm giảng viên có lợi thế đưa kinh nghiệm nghề nghiệp vào lớp học mà không tách rời phương pháp sư phạm. Thạc sĩ, luật sư Nguyễn Đào Tơ, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hoàng Huy và giảng viên Trường Đại học Thành Đô, là một ví dụ về sự kết hợp ấy. Những bài học từ hồ sơ, đàm phán và tranh tụng, khi được xử lý phù hợp, giúp người học thấy vì sao một phương án pháp lý có thể hiệu quả hoặc thất bại. Song kinh nghiệm cá nhân không thể thay thế chuẩn đầu ra chung; cơ sở đào tạo cần xây dựng tiêu chí đánh giá và bảo đảm chất lượng giảng dạy. Kỳ thi luật sư quốc gia cũng nên kiểm tra năng lực vận dụng, không chỉ khả năng ghi nhớ. Nếu kỳ thi là ngưỡng đánh giá để cấp chứng chỉ, nó phải đo được kiến thức, kỹ năng và khả năng xử lý tình huống nghề nghiệp.
Cải cách sẽ không thành công nếu chỉ đổi tên kỳ thi hoặc bổ sung vài chuyên đề thực hành. Cần nối chương trình, tập sự và khảo thí bằng chuẩn năng lực thống nhất, đồng thời phân công rõ trách nhiệm giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và giới hành nghề. Khi lý luận pháp lý được thử thách trong tình huống thực tế, còn kinh nghiệm hành nghề được hệ thống hóa để giảng dạy, người học mới có nền tảng vững để bước vào nghề. Đó mới là thước đo thuyết phục cho chất lượng đào tạo luật sư.






