Từ di sản ngàn năm đến chiến lược y tế quốc gia mới
Y học cổ truyền Việt Nam là hệ thống tri thức, thực hành chẩn đoán, phòng bệnh và điều trị dựa trên dược liệu bản địa, phương pháp không dùng thuốc và kinh nghiệm dân gian – cung đình, được tích lũy, truyền lại và điều chỉnh qua hàng nghìn năm, hiện đang từng bước được chuẩn hóa bằng khoa học hiện đại. Chính điểm chuyển hướng này là thông điệp quan trọng nhất: nếu không được chứng minh, chuẩn hóa và tích hợp vào chiến lược y tế quốc gia, di sản ấy sẽ mãi là câu chuyện hoài niệm, không phải nguồn lực phát triển. Trong bối cảnh đó, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hùng gần đây đã chủ trì cuộc họp Ban soạn thảo Chiến lược quốc gia phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cốt lõi của chiến lược là đưa y học cổ truyền chuyển từ giai đoạn bảo tồn – phát triển dựa trên kinh nghiệm sang giai đoạn phát triển chiến lược dựa trên chứng cứ khoa học, có hệ thống và có khả năng hội nhập quốc tế. Nếu không dứt khoát bước qua ranh giới này, mọi khẩu hiệu “giữ gìn bản sắc” sẽ khó đi kèm trách nhiệm với sức khỏe người dân.

Di sản chỉ có giá trị khi trở thành tri thức, sản phẩm và mô hình chăm sóc
Y học cổ truyền Việt Nam đang sở hữu một kho tàng tri thức tích lũy qua hàng nghìn năm, nhưng kho tàng ấy chỉ trở thành nguồn lực khi được chuyển hóa thành giá trị cụ thể. Nói thẳng, bài thuốc trong tủ sách gia truyền không cứu được hệ thống y tế nếu nó không bước vào nghiên cứu lâm sàng, quy trình sản xuất chuẩn và mô hình chăm sóc cụ thể. Một câu nói cần được trích lại nguyên văn: “Y học cổ truyền chỉ thực sự tạo ra giá trị khi di sản được chuyển hóa thành tri thức, sản phẩm và mô hình chăm sóc sức khỏe phục vụ xã hội”. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 7 triệu lượt khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền, chiếm khoảng 3,3% tổng số lượt khám chữa bệnh. Con số này vừa là minh chứng về nhu cầu xã hội, vừa là lời nhắc rằng khu vực này vẫn mới là “mỏ vàng” chưa khai phá hết. Nếu không có chuẩn hóa, những lượt khám ấy khó trở thành căn cứ để mở rộng chi trả bảo hiểm, đầu tư dịch vụ hay xây dựng mô hình bệnh viện kết hợp, như chính dự thảo chiến lược đang đặt vấn đề nâng tỷ lệ thanh toán cho khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Đi bằng hai chân: Một chân là di sản, một chân là chứng minh khoa học y dược
Tọa đàm về một số nội dung đề xuất cho Luật Y dược cổ truyền từ góc nhìn thực tiễn và khoa học do PGS.TS Phạm Lê Tuấn – Chủ tịch Hội Quân dân y Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế – chủ trì đã cho thấy sự đồng thuận hiếm có: bảo tồn và phát triển không đối nghịch mà phải song hành. Ông nhấn mạnh, những giá trị truyền thống cần được bảo tồn, nhưng đồng thời phải được nghiên cứu, kiểm chứng, chuẩn hóa và phát triển bằng khoa học, công nghệ. Nếu các bài thuốc, phương pháp không đi vào quy trình chứng minh khoa học y dược nghiêm túc, chúng khó có chỗ đứng trong hệ thống y tế chính thống. Đáng chú ý, bối cảnh chính sách đang mở cửa rộng. Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 và Quyết định 1250/QĐ-TTg ngày 9/7/2026 đặt y học cổ truyền trong định hướng gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển dược liệu, kinh tế sức khỏe và công nghiệp dược liệu. Nói cách khác, Nhà nước đang yêu cầu y học cổ truyền đi bằng hai chân: một chân bám di sản, một chân bước trên nền tảng khoa học. Không cơ sở nào được phép chỉ dựa vào “truyền miệng” mà bỏ qua thử nghiệm, dữ liệu và giám sát chất lượng.

Từ nghiên cứu dược liệu đến kinh tế sức khỏe: Mỏ vàng chưa khai phá
Nếu coi y học cổ truyền là mỏ vàng, thì dược liệu chính là quặng thô cần một chuỗi giá trị nghiêm túc. Các đại biểu tại Tọa đàm thống nhất rằng cần nhìn dược liệu dưới góc độ một chuỗi hoàn chỉnh, từ giống, nguồn gen, vùng trồng, thu hái, sơ chế, chế biến, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến sản xuất và sử dụng. Các chuyên gia còn nhấn mạnh phải phát triển toàn bộ chuỗi giá trị gồm bảo tồn nguồn gen, quy hoạch vùng trồng, chuẩn hóa giống, canh tác, thu hái, bào chế, kiểm nghiệm, nghiên cứu tác dụng, phát triển sản phẩm, đăng ký lưu hành, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Nghiên cứu dược liệu không thể dừng ở mức sưu tập bài thuốc mà phải đi đến tiêu chuẩn hóa thành nguyên liệu của công nghiệp dược. Chiến lược quốc gia cũng xác định khoa học – công nghệ và chuyển đổi số là động lực để chuẩn hóa và hiện đại hóa y học cổ truyền. Chuyển đổi số kết hợp công nghệ, chuyển đổi xanh cần gắn với phát triển và bảo tồn nguồn gen dược liệu quý của Việt Nam. Khi đó, y học cổ truyền không chỉ là dịch vụ khám chữa bệnh, mà trở thành một phần của kinh tế sức khỏe, gắn với y tế xanh, kinh tế tuần hoàn, du lịch y tế và thương hiệu quốc gia. Nhưng điều này chỉ xảy ra nếu các kết quả nghiên cứu dược liệu được đưa vào sản xuất – lưu hành một cách minh bạch, thay vì để các vùng trồng manh mún, sản phẩm không đạt chuẩn len lỏi vào thị trường.

Kết hợp Đông – Tây y: Từ khẩu hiệu đến mô hình cụ thể
PGS.TS Nguyễn Thị Bay – một trong những chuyên gia hàng đầu về y học cổ truyền và kết hợp Đông – Tây y – chỉ ra rằng mô hình bệnh tật đang chuyển mạnh sang bệnh mạn tính, bệnh không lây, rối loạn lối sống, stress, lão hóa và suy giảm chức năng. Đây chính là lĩnh vực y học cổ truyền có thể đóng góp nhiều nhất, với thế mạnh điều hòa chức năng, hỗ trợ phục hồi, quản lý bệnh mạn, chăm sóc người cao tuổi, nâng cao thể trạng và chất lượng sống. Song bà nhấn mạnh: chỉ khi có mô hình tích hợp rõ ràng, y học cổ truyền mới trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống y tế quốc gia, thay vì tồn tại như một khu vực bên lề. Hiện tại, dự thảo chiến lược đặt mục tiêu phát triển hệ sinh thái y học cổ truyền toàn diện từ chẩn đoán, điều trị, đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, dược liệu, sản xuất, thị trường đến bảo tồn tri thức. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an toàn cho người bệnh và tạo điều kiện để những giá trị về tri thức, con người, dược liệu, thuốc cổ truyền phát triển bền vững. Nói cách khác, kết hợp Đông – Tây y không thể nằm ở khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng phác đồ, quy trình, hệ thống thanh toán và đào tạo. Nếu không làm đến nơi đến chốn, cả hai hệ thống sẽ tiếp tục hoạt động song song, bỏ lỡ cơ hội bổ trợ nhau vì lợi ích người bệnh.






