Điện mặt trời vùng miền: cùng nắng, khác cách làm
Điện mặt trời là hình thức sản xuất điện năng từ bức xạ mặt trời bằng các tấm pin quang điện, có thể triển khai trên đất liền, mái nhà hoặc mặt nước, giúp tăng nguồn điện sạch, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tạo dư địa phát triển kinh tế xanh cho các địa phương. Việt Nam đang chứng kiến một cuộc chạy đua âm thầm giữa các tỉnh trong việc chiếm lĩnh không gian phát triển điện mặt trời. Điều đáng nói không phải là ai lắp được nhiều MW hơn, mà là tỉnh nào chọn được chiến lược thông minh, phù hợp địa hình và hạ tầng. Quảng Ninh nhắm vào quy hoạch lớn trong Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, An Giang biến Núi Cấm thành thảo nguyên năng lượng, còn Lâm Đồng đi theo hướng điện mặt trời trên hồ thủy điện.

Điện mặt trời Quảng Ninh: từ tỉnh than đến cực tăng trưởng năng lượng sạch
Quảng Ninh không muốn đứng lại ở vai trò “thủ phủ than”, mà đang chuyển mình mạnh mẽ sang điện mặt trời quy mô lớn. Tỉnh đang nghiên cứu, đề xuất bổ sung 8 dự án điện mặt trời với tổng công suất dự kiến 2.199-2.399 MW vào Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII. Đây là tuyên bố tham vọng rõ ràng: Quảng Ninh muốn trở thành cực tăng trưởng mới của hệ thống điện sạch quốc gia. Trong đó, Nhà máy điện mặt trời Quảng Ninh có công suất nền phát lên lưới khoảng 700 MW, kết hợp hệ thống điện mặt trời tổng công suất 4.000 MW và pin lưu trữ dung lượng 8.800 MWh. Tỉnh cũng đã khởi công dự án kết hợp nuôi trồng thủy sản và điện mặt trời Đầm Hà công suất 100 MW vào tháng 12/2025.
Điểm đáng khen là Quảng Ninh không chạy theo số lượng dự án bằng mọi giá. Theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, giai đoạn 2025-2030 tỉnh được quy hoạch 400 MW điện mặt trời tập trung và 1.418 MW điện mặt trời mái nhà. Nhưng tỉnh yêu cầu các nhà đầu tư phải rà soát phương án đấu nối, giải tỏa công suất và cam kết tiến độ đưa nhà máy vào vận hành. Cách làm này cho thấy địa phương hiểu rõ “cơn nghẽn lưới” từng khiến nhiều dự án năng lượng tái tạo khác lao đao. Điện mặt trời Quảng Ninh vì thế vừa tham vọng, vừa có tính kỷ luật – đó là ưu thế cạnh tranh so với nhiều tỉnh chỉ dừng ở phong trào đăng ký công suất trên giấy.
An Giang: thảo nguyên năng lượng biến du lịch thành câu chuyện điện mặt trời
Nếu Quảng Ninh chọn hướng công nghiệp năng lượng, thì An Giang lại kể câu chuyện mềm hơn: biến năng lượng tái tạo An Giang thành sản phẩm du lịch. Dưới chân Núi Cấm, hơn nửa triệu tấm pin mặt trời hòa cùng đồng cỏ xanh, tạo nên “thảo nguyên năng lượng” độc đáo giữa vùng Bảy Núi. Khu tham quan Điện mặt trời An Hảo với công suất 210 MWp trên diện tích khoảng 275 ha không chỉ là một nhà máy, mà là bức thông điệp thị giác về tương lai năng lượng sạch. Khi du khách đứng trên Thủy đài, nhìn “đại dương bạc” dưới bóng Thiên Cấm Sơn, họ thấy năng lượng sạch không còn là khái niệm kỹ thuật khô khan mà là trải nghiệm cụ thể, sống động.
Cách làm của An Giang cho thấy một góc tiếp cận khác: năng lượng tái tạo không chỉ để bơm điện vào lưới, mà còn để nâng tầm hình ảnh địa phương và kéo thêm dòng thu nhập từ du lịch. Giữa vùng đất vốn gắn với lúa, kênh rạch và mùa nước nổi, An Hảo Solar Farm kể một câu chuyện về một Việt Nam đang vươn mình cùng năng lượng sạch, nơi công nghệ hiện đại được đặt giữa núi rừng nguyên sơ. Tỉnh không cần công suất khổng lồ như Quảng Ninh, nhưng lại dẫn đầu về cách “nhân đôi giá trị” mỗi MW điện – vừa góp nguồn điện sạch cho hệ thống, vừa tạo điểm đến du lịch mới. Đó là chiến lược tinh gọn nhưng thông minh.
Lâm Đồng: mở dư địa bằng điện mặt trời trên hồ thủy điện
Khác với Quảng Ninh và An Giang, Lâm Đồng tận dụng thứ tài sản ít ai nghĩ tới: mặt nước các hồ thủy điện. Tỉnh đã thống nhất chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện mặt trời KN Buôn Tua Srah tại xã Quảng Phú, công suất thiết kế 312 MW (390 MWp), tổng diện tích sử dụng khoảng 495,3 ha, trong đó khoảng 487 ha nằm trên lòng hồ. Toàn bộ pin được lắp trên hệ giá đỡ phao nổi cao 0,5-1 m, kèm hệ thống pin lưu trữ BESS với công suất tối thiểu bằng 10% công suất nhà máy và thời gian lưu trữ 2 giờ. Nhà máy phải hoàn thành và đưa vào hoạt động chậm nhất trong quý II/2029. Đây là lựa chọn rõ ràng: Lâm Đồng không muốn mở thêm quỹ đất, mà mở thêm “quỹ mặt nước”.
Điện mặt trời trên hồ thủy điện đang trở thành hướng phát triển nguồn điện mới tại Lâm Đồng. Tỉnh đã tiếp nhận 35 hồ sơ xin chủ trương dự án nguồn điện theo Quy hoạch điện VIII và điều chỉnh, trong đó có 14 dự án điện mặt trời, nhiều dự án đề xuất trên các hồ Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Sêrêpốk 3, Đắk Sin 1, Đồng Nai 2, Đại Ninh, Đa Dâng 3. Một dự án tiêu biểu là nhà máy điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện Đồng Nai 2, công suất 240 MW (300 MWp), sử dụng khoảng 354,8 ha mặt nước, dự kiến hoàn thành xây dựng quý III/2027 và hòa lưới từ quý IV/2027. Lợi thế quan trọng là các dự án có thể dùng hạ tầng sẵn có của thủy điện, từ trạm biến áp đến lưới truyền tải, giảm áp lực đầu tư mới và rút ngắn thời gian thực hiện.

Điểm chung và bài học: tăng trưởng kinh tế xanh phải gắn với quy hoạch
Nhìn từ ba địa phương, dễ thấy một mẫu số chung: năng lượng tái tạo không còn là “phụ trang” mà trở thành trụ cột cho tăng trưởng kinh tế – xã hội. Ở Quảng Ninh, các dự án điện mặt trời được đề xuất trong bối cảnh tỉnh đã được quy hoạch phát triển đa dạng nguồn năng lượng; ở Lâm Đồng, điện mặt trời trên hồ thủy điện phù hợp Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và quy hoạch tỉnh, được xem là các dự án có khả năng bổ sung nguồn điện và đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội. Trong giai đoạn 2026-2030, nhu cầu nguồn điện ổn định và năng lượng sạch tại Lâm Đồng dự kiến tăng cùng đà phát triển kinh tế – xã hội, và điều này cũng đúng với nhiều tỉnh khác. Câu chuyện không còn là “có làm hay không”, mà là “làm cách nào để không phá vỡ hệ thống và môi trường”.
Bài học rõ ràng: mỗi tỉnh phải chọn con đường phù hợp với thế mạnh của mình. Quảng Ninh tận dụng lợi thế hạ tầng lưới điện, quỹ đất công nghiệp và kinh nghiệm vận hành hệ thống lớn; An Giang biến nắng thành sản phẩm du lịch, nâng giá trị mỗi kWh bằng câu chuyện và trải nghiệm; Lâm Đồng mở không gian mới bằng điện mặt trời trên hồ, dùng lại hạ tầng thủy điện để tăng hiệu quả đầu tư. Nếu các tỉnh chỉ chạy theo cuộc thi công suất, Quy hoạch điện VIII sẽ trở nên chật chội và lưới điện tiếp tục căng thẳng. Ngược lại, nếu học cách kết hợp giữa quy hoạch, địa hình và kinh tế địa phương như ba ví dụ này, Việt Nam hoàn toàn có thể vừa tăng tỷ trọng nguồn điện sạch, vừa giữ được đà tăng trưởng kinh tế ổn định và bền hơn.







