Đường đến trường là một phần của trường học
Đường đến trường là tập hợp các công trình cầu, đường, bến đò và phương tiện đưa đón bảo đảm an toàn học sinh đường đi, đặc biệt tại vùng sâu vùng núi giao thông khó khăn, và phải được coi như một phần cấu thành của hệ thống giáo dục phổ thông, vì mọi chính sách giáo dục vùng khó khăn đều trở nên vô nghĩa nếu trẻ em không thể đến được lớp học một cách an toàn.
Từ phản ánh báo chí ngày 12/9 về việc học sinh ở xã Mường Hoa, Phú Thọ phải vượt lòng hồ bằng thuyền để đến trường hằng ngày, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Văn bản 9322/VPCP-KGVX ngày 13/9/2026 truyền đạt ý kiến Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu về bảo đảm an toàn cho học sinh trên đường đến trường. Đây không chỉ là một công văn kỹ thuật; nó là tuyên bố chính trị rằng đầu tư cầu đường trường học gắn trực tiếp với quyền học tập. Nói cách khác, một ngôi trường chưa có đường an toàn dẫn tới thì đó là một ngôi trường còn dang dở.
Từ con đò Mường Hoa tới mệnh lệnh rà soát hạ tầng
Câu chuyện học sinh thôn Ngòi Hoa, xã Mường Hoa, phải đi thuyền vượt lòng hồ mỗi ngày để đến lớp đã làm lộ rõ một nghịch lý: chúng ta nói nhiều về chuyển đổi số giáo dục, nhưng ở vùng sâu vùng núi giao thông vẫn phụ thuộc vào con đò mong manh. Với trẻ em, mỗi chuyến đò là một lần đánh cược an toàn, và trong mùa mưa bão, đánh cược luôn kèm theo nguy cơ bỏ học.
Phó Thủ tướng đã yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ kiểm tra, rà soát thông tin và khẩn trương có phương án bảo đảm an toàn tuyệt đối cho học sinh Trường Tiểu học và THCS Mường Hoa. Đồng thời, ông chỉ đạo triển khai ngay tuyến đường bộ theo kế hoạch để tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho việc đến trường. Đây là thông điệp rõ ràng: không thể tiếp tục chấp nhận cảnh học sinh bỏ học giao thông chỉ vì thiếu một con đường quanh hồ.
Chính phủ siết chặt an toàn, địa phương hết “cớ” đổ cho thiên tai
Đáng chú ý, chỉ đạo lần này đi sâu vào chi tiết kỹ thuật thay vì dừng ở mức kêu gọi chung chung. Phó Thủ tướng yêu cầu tất cả tỉnh, thành rà soát các điểm trường phải vượt sông, suối, lòng hồ bằng đò, thuyền, bè, mảng và các tuyến đường qua cầu treo, cầu tạm, ngầm tràn, khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét, chia cắt trong mùa mưa bão. Điều này cho thấy Nhà nước thừa nhận rủi ro hạ tầng là một trong những nguyên nhân gốc dẫn đến học sinh bỏ học giao thông ở vùng khó.
Các phương tiện đưa đón phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, người lái có chuyên môn, trang bị áo phao và dụng cụ nổi cứu sinh, đồng thời có quy định mực nước, điều kiện thời tiết để tạm dừng hoạt động. Chính phủ cũng yêu cầu không để học sinh tự ý vượt sông, suối, bố trí lực lượng hỗ trợ tại vị trí xung yếu. Đây là bước siết trách nhiệm trực tiếp tới cấp xã, cắt đứt thói quen “đổ lỗi cho thiên tai” mỗi khi xảy ra tai nạn trên đường đến trường.
Đầu tư cầu, đường: ưu tiên mới cho chính sách giáo dục vùng khó
Điểm then chốt trong chỉ đạo là yêu cầu các địa phương rà soát tổng thể hệ thống cầu, đường, rồi chủ động bố trí, lồng ghép nguồn lực ngân sách với nguồn lực xã hội để khẩn trương đầu tư. Đầu tư này phải ưu tiên vị trí cấp thiết, trọng yếu, phục vụ nhu cầu đi lại của học sinh và dân sinh, bảo đảm an ninh, an toàn. Đây là cách tiếp cận coi đầu tư cầu đường trường học là hạng mục bắt buộc trong chính sách giáo dục vùng khó khăn, chứ không phải “hạ tầng phụ trợ”.
Mục tiêu được nhấn mạnh nhiều lần: không để học sinh phải nghỉ học, bỏ học vì điều kiện giao thông, đi lại khó khăn. Một phát biểu có thể trích dẫn là: “Mục tiêu là không để học sinh phải nghỉ học, bỏ học vì điều kiện giao thông, đi lại khó khăn”. Khi mục tiêu đã cụ thể đến vậy, bất kỳ kế hoạch an toàn học sinh đường đi nào không gắn với tiến độ cầu, đường cụ thể đều chỉ là lời hứa.
Từ chỉ đạo Trung ương tới hành động ở thôn bản
Để chỉ đạo không dừng trên giấy, vai trò của ngành giáo dục được đặt ra rõ ràng. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan và địa phương để hướng dẫn, kiểm tra, triển khai biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn cho học sinh đến trường, nhất là tại các địa bàn giao thông khó khăn, nguy cơ sạt lở, lũ quét, chia cắt. Nói cách khác, chính sách giáo dục vùng khó khăn từ nay buộc phải gắn với bản đồ rủi ro giao thông, chứ không thể tách rời.
Đường đến trường sẽ an toàn hơn nếu địa phương coi mỗi cây cầu, mỗi đoạn đường vào điểm trường là cam kết cụ thể với trẻ em vùng sâu vùng núi giao thông hiểm trở. Khi UBND cấp xã chịu trách nhiệm trực tiếp, khi nguồn lực được ưu tiên cho những điểm xung yếu, chúng ta có lý do để kỳ vọng: vài năm tới, hình ảnh học sinh chênh vênh trên con đò tới lớp sẽ chỉ còn là ký ức, không phải là hiện thực lặp lại sau mỗi mùa mưa lũ.






