Từ định hướng quốc gia biển mạnh đến yêu cầu hành động cụ thể
Chính sách biển Việt Nam là tập hợp định hướng chiến lược, quy định pháp lý và công cụ quản trị nhằm biến lợi thế không gian biển thành động lực phát triển kinh tế biển, bảo vệ hệ sinh thái đại dương, tăng cường hợp tác biển khu vực và xây dựng hình ảnh một quốc gia biển mạnh trong trật tự quốc tế hiện đại. Đã đến lúc nhìn nhận thẳng thắn: Việt Nam không thiếu nghị quyết, chiến lược hay tầm nhìn, điều thiếu là tốc độ chuyển đổi các văn bản này thành những thay đổi hữu hình trên bờ, ngoài khơi và trong đời sống của hơn 4 triệu lao động gắn sinh kế với biển. Việc tiếp tục nói về tiềm năng biển mà không gắn với lộ trình hành động rõ ràng sẽ khiến lợi thế chiến lược bị bào mòn.
UNDP: Nền tảng thuận lợi nhưng không thể dừng ở lời hứa
Từ góc nhìn quốc tế, biển được coi là “tài sản chiến lược” của Việt Nam, với hơn 3.260km đường bờ biển, vùng biển rộng lớn, vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quan trọng cùng tiềm năng điện gió ngoài khơi ước tính hơn 1.000 GW. Đây là những con số đủ để biện minh cho mục tiêu quốc gia biển mạnh, nhưng chưa đủ để bảo đảm thành công. Đại diện UNDP đánh giá Việt Nam có nền tảng rất thuận lợi để trở thành quốc gia biển mạnh, song ưu tiên lúc này phải là chuyển những nền tảng chính sách đã được thiết lập thành hành động cụ thể, thúc đẩy quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển. Nói cách khác, câu hỏi không còn là “có nên phát triển mạnh về biển hay không”, mà là “bao giờ chính sách bước ra khỏi văn phòng để xuất hiện trên cảng cá, tuyến vận tải và dự án năng lượng ngoài khơi”.
Khuôn khổ quản trị biển hiện đại: Việt Nam trong mắt Timor-Leste và Philippines
Điều đáng chú ý là các đối tác khu vực nhìn thấy khá rõ vai trò dẫn dắt của Việt Nam. Bên lề Đối thoại Biển lần thứ 15, Đại sứ Timor-Leste khẳng định Việt Nam đã nổi lên là quốc gia đi đầu trong việc xây dựng và triển khai các chính sách liên quan đến biển và đại dương. Nhận xét này không phải xã giao, mà xuất phát từ thực tế Việt Nam chủ động thúc đẩy các thỏa thuận quốc tế về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển, đồng thời coi UNCLOS 1982 là nền tảng cho quản trị biển hiện đại. Tại Diễn đàn Biển 2026, Đại sứ Philippines nhận định Việt Nam đang xây dựng một khuôn khổ tổng thể để thúc đẩy việc sử dụng và khai thác bền vững các nguồn lực biển và đại dương, gắn với chương trình nghị sự kinh tế xanh của ASEAN. Chính sự kết hợp giữa khung chính sách trong nước và hợp tác biển khu vực đã đưa Việt Nam vào vị trí tham chiếu với các nước mới gia nhập ASEAN, trong đó Timor-Leste công khai tìm đến Việt Nam để học kinh nghiệm về quản lý biển và phát triển đại dương bền vững.

Tác động tới cộng đồng ven biển: bài kiểm tra của mọi chính sách
Một khuôn khổ chính sách biển toàn diện sẽ vô nghĩa nếu ngư dân vẫn bấp bênh, hệ sinh thái tiếp tục suy thoái và các ngành kinh tế biển xanh không cất cánh. Các hệ sinh thái biển và ven biển hiện đang trực tiếp hỗ trợ sinh kế cho hơn 4 triệu lao động trong ngành thủy sản, đồng thời có khả năng lưu trữ carbon cao. Đây vừa là nguồn vốn tự nhiên, vừa là áp lực chính sách: khai thác nhiều hơn phải đi cùng bảo tồn tốt hơn. Theo các cuộc thảo luận tại Diễn đàn Biển, khi tài nguyên được quản lý tốt hơn, lợi ích sẽ quay trở lại với cộng đồng địa phương thông qua sinh kế ổn định và khả năng chống chịu tốt hơn trước biến đổi khí hậu. Chính sách biển Việt Nam vì thế cần được đánh giá không chỉ bằng số dự án hay báo cáo, mà bằng chất lượng đời sống và mức độ an toàn sinh thái tại các dải ven biển – nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của mọi quyết định trên giấy.

Từ nghị quyết đến quản trị biển hiện đại: bước chuyển không thể trì hoãn
Trong gần tám năm kể từ khi Nghị quyết 36-NQ/TW về phát triển kinh tế biển được ban hành, Việt Nam đã đặt được những nền móng quan trọng cho phát triển biển theo hướng xanh và bền vững. Gần đây, Nghị quyết 20-NQ/TW tiếp tục đặt ra yêu cầu chuyển từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, coi xây dựng quốc gia biển mạnh là mục tiêu trung tâm của chiến lược phát triển. Sáng kiến như Bộ chỉ số kinh tế biển cấp tỉnh (VN-BEI) cho 21 địa phương ven biển cho thấy nỗ lực đo lường chất lượng tăng trưởng, mức độ xanh hóa và khả năng thu hút đầu tư bền vững dựa trên bằng chứng. Tuy vậy, thời gian tới sẽ là bài kiểm tra khắt khe: hoặc Việt Nam đẩy nhanh việc cụ thể hóa chính sách bằng dự án, luật chơi và công nghệ quản trị biển hiện đại, hoặc để lợi thế chiến lược bị chia sẻ cho những quốc gia khác trong khu vực. Kết luận rõ ràng là Việt Nam đã được công nhận vai trò dẫn dắt, nhưng chỉ việc triển khai nhất quán mới giữ được vị thế quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI.






