Cảng xanh và cảng số: Lựa chọn sinh tử cho TP.HCM
Cảng xanh TP.HCM là chiến lược phát triển hệ thống cảng biển dựa trên tiêu chuẩn môi trường khắt khe, hạ tầng cảng thông minh và logistics xanh Việt Nam, kết hợp chuyển đổi số cảng biển để giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh trước sức ép khu vực và các cam kết giảm phát thải toàn cầu. Nếu TP.HCM không đẩy nhanh hướng đi này, lợi thế cửa ngõ xuất nhập khẩu hoàn toàn có thể rơi vào tay các cảng Singapore hoặc các cụm cảng Malaysia. Vấn đề không còn là “có làm hay không”, mà là TP.HCM sẽ đi nhanh đến đâu, kết nối được bao nhiêu đối tác quốc tế và có biến khẩu hiệu chuyển đổi số cảng biển thành năng lực vận hành cụ thể hay không.
SNP và TCIT: Nền tảng công nghiệp cảng, bài kiểm tra cho cảng xanh
Không thể nói về cảng xanh TP.HCM mà bỏ qua vai trò của Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn (SNP). Doanh nghiệp này đang sở hữu 17.200 lao động, vận hành 18 phòng ban, chi nhánh và 29 công ty thành viên, đảm nhận khoảng 50% sản lượng container cả nước, trong đó hơn 85% tại TP.HCM và 44% tại khu vực Cái Mép. Đây là sức nặng hạ tầng đủ để tạo hoặc đánh mất lợi thế vùng. Điều đáng chú ý là Cảng Tân Cảng - Cái Mép - Thị Vải đã đạt chứng nhận Cảng xanh của Mạng lưới Cảng biển châu Á - Thái Bình Dương, cho thấy TP.HCM không chỉ nói về logistics xanh Việt Nam mà đã có mô hình cụ thể. Tuy nhiên, chuẩn xanh này mới là bước khởi đầu; bài toán khó hơn là nhân rộng sang toàn hệ sinh thái cảng và chuỗi hậu cần.
Về chuyển đổi số cảng biển, SNP đang triển khai chiến lược 5 năm số hóa toàn diện, trọng tâm là số hóa đội sà lan, xe đầu kéo, lấy nền tảng E-SNP làm hạt nhân và nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản lý, vận hành cảng thông minh. Đây chính là phần lõi của hạ tầng cảng thông minh mà TP.HCM muốn xây dựng. Việc SNP mở cửa hợp tác với các đối tác toàn cầu, từng thành công với mô hình liên doanh TCIT với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, cho thấy thành phố có sẵn một “phòng thí nghiệm” hợp tác cảng khu vực. Vấn đề là phải gắn các kế hoạch số hóa này với quy hoạch liên vùng và tiêu chuẩn môi trường mới, thay vì chỉ dừng ở phạm vi doanh nghiệp.

Doanh nghiệp Singapore: Cơ hội vàng hay phép thử cho chiến lược cảng số?
Tham vọng cảng xanh TP.HCM sẽ rỗng tuếch nếu thiếu vốn, công nghệ và đối tác có kinh nghiệm vận hành các trung tâm trung chuyển. Đây là lý do sự quan tâm của doanh nghiệp Singapore mang tính chiến lược. Tại Đối thoại Hữu nghị TP.HCM lần thứ 3, đại diện Liên đoàn Doanh nghiệp Singapore (SBF) đánh giá dư địa hợp tác logistics giữa Singapore và TP.HCM còn rất lớn, khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang đa dạng hóa và Việt Nam tiếp tục nâng cao năng lực hạ tầng, sản xuất. Nói cách khác, thời điểm này TP.HCM đang “được nhìn thấy” trên bản đồ logistics khu vực, nhưng cửa sổ cơ hội sẽ không mở mãi nếu thành phố không đưa ra các dự án cụ thể về hạ tầng cảng thông minh, logistics xanh và các hành lang thương mại mới.
SBF đã xác định 3 lĩnh vực hợp tác ưu tiên: chuỗi cung ứng số, hạ tầng cảng biển và logistics xanh, cùng giải pháp chuỗi lạnh tiên tiến. Đây chính là những mảnh ghép TP.HCM còn thiếu để cạnh tranh với các cảng khu vực dựa trên dịch vụ giá trị gia tăng chứ không chỉ là bốc dỡ đơn thuần. Từ đầu năm 2026, hơn 18 doanh nghiệp Singapore đã được đưa đến TP.HCM tìm hiểu thị trường và cơ hội hợp tác – con số này cho thấy nếu thành phố không chủ động thiết kế dự án rõ ràng, các đối tác sẽ chuyển dòng vốn sang nơi khác. TP.HCM cần coi mỗi đoàn khảo sát là một cuộc “chào thầu chiến lược” cho tương lai logistics xanh Việt Nam, thay vì chỉ là hoạt động ngoại giao kinh tế mang tính hình thức.

Đối thoại hữu nghị: Từ diễn đàn quốc tế đến cơ chế hợp tác cảng khu vực
Điểm khác biệt của TP.HCM so với nhiều đô thị cảng trong khu vực là họ đang dùng đối thoại quốc tế như một công cụ chính sách, chứ không chỉ là hội nghị đối ngoại. Trong khuôn khổ Đối thoại Hữu nghị TP.HCM lần thứ 3, các chuyên gia, doanh nghiệp và đại diện nhiều thành phố lớn tập trung thảo luận giải pháp phát triển cảng xanh, số hóa logistics và thúc đẩy hợp tác giữa các thành phố cảng. Đây là cách thành phố đưa câu chuyện cảng biển ra khỏi phạm vi kỹ thuật, đặt vào bối cảnh cạnh tranh khu vực và tiêu chuẩn môi trường mới. Các đề xuất hiện đại hóa hạ tầng để tiếp nhận tàu tải trọng lớn dùng nhiên liệu sạch, điện hóa thiết bị bốc dỡ, xây dựng hệ thống chia sẻ dữ liệu tàu biển giữa các cảng nếu được triển khai nghiêm túc, sẽ biến TP.HCM thành một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới cảng thông minh khu vực.
Theo định hướng được nêu tại diễn đàn, TP.HCM phải chuyển từ mục tiêu tăng công suất sang tăng cường kết nối hạ tầng, phát triển logistics đa phương thức và chuyển đổi theo hướng xanh, thông minh trong bối cảnh chi phí logistics Việt Nam còn cao. Điều này đòi hỏi cơ chế điều phối vùng thay vì mỗi địa phương tối đa hóa lợi ích riêng, cùng lúc khai thác tốt hơn vận tải thủy và hạ tầng sau cảng. Thành phố đang tận dụng mạng lưới 88 địa phương kết nghĩa quốc tế để tiếp nhận công nghệ, mô hình quản trị cảng tiên tiến và hướng tới cơ chế hợp tác đa phương giữa các thành phố cảng. Nếu thực hiện được, TP.HCM sẽ không phải “đấu tay đôi” với Singapore, mà tham gia một mạng lưới hợp tác cảng khu vực nơi mỗi cảng có một vai trò khác nhau trong chuỗi giá trị.
Đường đua phía trước: TP.HCM cần làm gì để không tụt lại?
Sự kết hợp giữa SNP với chiến lược số hóa 5 năm, các dự án cảng xanh đã được chứng nhận và làn sóng quan tâm từ doanh nghiệp Singapore cho thấy TP.HCM đang có nền tảng hiếm có cho một chiến lược cảng xanh TP.HCM mang tầm khu vực. Nhưng nền tảng không tự chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh nếu thiếu ưu tiên chính sách rõ ràng. Thành phố cần sớm hoàn thiện quy hoạch tích hợp cảng – logistics – đô thị – vùng kinh tế, gắn chuyển đổi số cảng biển với lộ trình giảm phát thải carbon, và biến các diễn đàn hữu nghị thành nơi chốt các thỏa thuận cụ thể về chuỗi cung ứng số và logistics xanh Việt Nam.
Cuối cùng, cuộc chơi không chỉ nằm ở cần cẩu, bến bãi hay số hóa nội bộ, mà ở khả năng TP.HCM định nghĩa lại vai trò của mình trong mạng lưới hợp tác cảng khu vực. Nếu thành phố dám chọn tiêu chuẩn cao hơn về môi trường và dữ liệu, song song với cơ chế phối hợp vùng thực chất, TP.HCM có cơ hội không chỉ đuổi kịp mà còn tạo khác biệt so với các cảng trong khu vực Đông Nam Á. Ngược lại, nếu để chiến lược cảng xanh và hạ tầng cảng thông minh dừng ở văn kiện, vị thế cửa ngõ hàng hải của TP.HCM rất dễ bị bào mòn bởi những đối thủ đã đi trước một bước trong chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.







