Từ hệ thống cảng rời rạc đến tham vọng hệ sinh thái logistics thống nhất
Hệ sinh thái cảng thông minh TP.HCM là một không gian phát triển được tổ chức lại theo hướng kết nối cảng biển, cảng sông, trung tâm logistics, khu sản xuất và đô thị, nhằm xử lý khối lượng hàng hóa lớn với chi phí thấp, thời gian nhanh, phát thải giảm, đồng thời gắn với không gian di sản và hiện đại để nâng sức cạnh tranh trên bản đồ cảng khu vực. Trong bối cảnh kinh tế hàng hải và logistics trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, hệ thống cảng của TP.HCM bước vào giai đoạn mở rộng cả về quy mô lẫn không gian phát triển. Thay vì mỗi cảng hoạt động như một “ốc đảo”, thành phố đang kết nối cụm Cát Lái, Hiệp Phước, Nhà Bè với các cảng sông Bình Dương và cụm nước sâu Cái Mép – Thị Vải. Câu hỏi không còn là nên đầu tư thêm bao nhiêu cầu bến, mà là làm thế nào để tạo một hệ sinh thái logistics thống nhất, cạnh tranh được với những trung tâm cảng như Singapore.

Ba trụ cột chiến lược: hạ tầng đồng bộ, cảng thông minh, cảng xanh bền vững
Theo định hướng mới, TP.HCM đặt ra ba nhóm nhiệm vụ để biến tham vọng hệ sinh thái logistics thành hiện thực: tăng tốc đầu tư hạ tầng cảng và kết nối vận tải; phát triển cảng thông minh TP.HCM gắn với số hóa quy trình; và xây dựng cảng xanh bền vững gắn với chuẩn phát thải của chuỗi cung ứng quốc tế. Về hạ tầng, mục tiêu là nối liền cảng với trung tâm logistics và khu sản xuất qua mạng đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, tránh tình trạng hàng hóa bị “nghẽn” ngoài cảng. Về thông minh, kinh nghiệm từ các đơn vị tiên phong như TCIT cho thấy hệ thống ePORT, lệnh giao nhận điện tử eDO, điều hành bãi tự động TOPX và cổng thông minh AutoGate dùng AI/Big Data đã rút ngắn thời gian giao nhận, giảm chứng từ giấy và tăng hiệu quả khai thác. Và về xanh, việc sử dụng năng lượng sạch, nâng mức tự động hóa, đáp ứng chuẩn phát thải nghiêm ngặt không còn là lựa chọn mà trở thành điều kiện để tham gia chuỗi logistics toàn cầu.

TCIT: minh chứng thực tế cho mô hình cảng thông minh và nền tảng cạnh tranh khu vực
Muốn đánh giá sức mạnh cạnh tranh cảng khu vực, không thể chỉ nhìn vào bản quy hoạch mà phải quan sát năng lực vận hành thực tế. Tại Cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép (TCIT), diện tích 60 ha, ba bến với tổng chiều dài cầu bến 890 m, độ sâu trước bến 16,8 m cho phép tiếp nhận tàu đến 173.724 DWT, công suất thiết kế 2,4 triệu TEU/năm. Đây là “đầu mối” nước sâu kết nối hàng hóa Việt Nam với các tuyến hàng hải quốc tế, đồng thời là phòng thí nghiệm sống cho mô hình cảng thông minh TP.HCM. Hệ thống ePORT, eDO, TOPX và AutoGate giúp rút ngắn thời gian chờ, giảm chi phí xử lý thủ tục cho doanh nghiệp. Đáng chú ý, cấu trúc sở hữu đa dạng từ liên doanh, liên kết, công ty cổ phần đến doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã mở rộng cơ hội hợp tác với đối tác toàn cầu. Với quy mô và cách vận hành này, TCIT cho thấy TP.HCM không đi sau trong cuộc đua số hóa cảng mà đã có điểm tựa để cạnh tranh cảng khu vực theo logic hệ sinh thái logistics thay vì từng cảng đơn lẻ.

Tiêu chuẩn Tokyo, mục tiêu 2030 và bài toán xử lý hàng hóa bền vững
Tham vọng cạnh tranh với Singapore buộc TP.HCM phải “soi mình” bằng những chuẩn mực cao hơn, như kinh nghiệm Tokyo. Tại sự kiện Đối thoại Hữu nghị TP.HCM tổ chức ở Vũng Tàu, lãnh đạo Tokyo chia sẻ mục tiêu giảm 50% phát thải CO₂ vào năm 2030 so với 2000, 60% vào năm 2035, hướng tới trung hòa carbon năm 2050, trong khi sản lượng container dự kiến đạt 4,27 triệu TEU vào 2025. Tokyo thay thế dần thiết bị chạy diesel bằng thiết bị dùng hydro, triển khai tàu dùng pin nhiên liệu hydro và hệ thống điện mặt trời, đồng thời tái phát triển bến container Oi với thiết bị xếp dỡ hiện đại, hệ thống lập kế hoạch container và số hóa quy trình trên nền tảng AI đến năm 2035. Trong bối cảnh đó, TP.HCM đặt mục tiêu đến 2030 hàng hóa qua hệ thống cảng đạt 463,4–512,5 triệu tấn, container 29,63–33,16 triệu TEU (không tính trung chuyển quốc tế), hành khách 3–3,3 triệu lượt. Nếu không gắn các con số tăng trưởng này với yêu cầu cảng xanh bền vững, thành phố có nguy cơ đánh đổi sức cạnh tranh dài hạn bằng tắc nghẽn và chi phí môi trường.
Kết nối hạ tầng di sản, không gian đô thị và hệ sinh thái logistics: lợi thế khác biệt của TP.HCM
Để vượt lên trong cuộc cạnh tranh cảng khu vực, TP.HCM không thể sao chép mô hình Singapore hay Tokyo, mà phải tận dụng điểm khác biệt: kết nối hạ tầng logistics hiện đại với không gian di sản và đô thị sống động. Chuyến tham quan của các đại biểu quốc tế cho thấy một TP.HCM mới năng động, hội nhập, có năng lực kết nối kinh tế toàn cầu, đồng thời giàu chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa. Một nhóm đại biểu trực tiếp quan sát hạ tầng cảng nước sâu tại TCIT, nhóm còn lại trải nghiệm không gian di sản tại Bạch Dinh và Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu. Nếu TCIT thể hiện một thành phố hiện đại, đang nâng năng lực logistics và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thì Bạch Dinh và bảo tàng lại mở ra không gian giàu bản sắc, giúp bạn bè quốc tế hiểu thêm lịch sử, con người, văn hóa vùng đất phía Nam. Kết hợp hàng hóa sản xuất với hạ tầng hiện đại, công nghệ, năng lượng sạch và cơ chế thuận lợi thương mại sẽ là nền tảng để hình thành hệ sinh thái logistics xanh, thông minh và đủ khả năng cạnh tranh toàn cầu. Nếu TP.HCM kiên định đi theo hướng này, câu hỏi không còn là liệu thành phố có theo kịp Singapore, mà là Singapore sẽ cạnh tranh với hệ sinh thái cảng nào ở Đông Nam Á trong thập kỷ tới.







