Du lịch cộng đồng: khi bản sắc trở thành sinh kế địa phương
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch văn hóa mà trong đó cộng đồng cư dân địa phương giữ vai trò trung tâm, trực tiếp tham gia tổ chức các dịch vụ lưu trú, ẩm thực, trải nghiệm văn hóa và khai thác cảnh quan, biến chính đời sống, phong tục, lễ hội, nghề truyền thống và tài nguyên bản địa thành sản phẩm thu hút du khách, đồng thời tạo việc làm và thu nhập ngay trên quê hương của họ. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng miền núi, hướng đi này không còn là lựa chọn phụ mà đã trở thành trụ cột phát triển kinh tế – xã hội. Khi địa hình chia cắt, hạ tầng và công nghiệp hạn chế, chính kho tàng lễ hội, dân ca, dân vũ, kiến trúc nhà ở, ẩm thực và không gian làng bản lại tạo lợi thế riêng cho du lịch cộng đồng. Bản sắc văn hóa, nếu được tổ chức bài bản, không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực nội sinh xây dựng sinh kế địa phương bền vững.

Từ bảo tồn văn hóa đến chuỗi sinh kế mới ở vùng dân tộc thiểu số
Điểm đáng nói là các chương trình hỗ trợ gần đây không dừng lại ở khẩu hiệu bảo tồn văn hóa, mà chủ đích biến văn hóa thành sinh kế. Giai đoạn 2021 – 2025, thông qua Dự án 6 về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng, Nhà nước đã đầu tư bảo tồn 48 làng, bản và 69 điểm đến du lịch tiêu biểu; xây dựng, cải tạo 3.220 nhà văn hóa – khu thể thao; phục dựng và phát huy 124 lễ hội truyền thống. Đây là con số cho thấy văn hóa được nhìn như hạ tầng kinh tế, chứ không chỉ là di sản trưng bày. Song song, 347 lớp tập huấn với hơn 16.350 lượt người tham gia đã bồi dưỡng kỹ năng du lịch như đón tiếp khách, chế biến món ăn, phục vụ lưu trú. Mô hình du lịch cộng đồng tạo ra một giá trị rất cụ thể: người dân có thể tạo việc làm và thu nhập ngay trong bản làng, không phải rời quê đi làm thuê ở nơi khác. Từ cung cấp chỗ ở, ẩm thực, biểu diễn văn nghệ, hướng dẫn trải nghiệm đến bán sản phẩm thủ công và sản vật địa phương, chuỗi sinh kế mới đang định hình rõ.
Tả Van: minh chứng sức bật kinh tế từ du lịch cộng đồng
Nếu cần một bằng chứng sống động cho hiệu quả kinh tế của du lịch cộng đồng, Tả Van là câu trả lời thuyết phục. Tại xã vùng cao này, du lịch cộng đồng được xây dựng trên nền cảnh quan ruộng bậc thang, văn hóa bản địa và sản vật đặc trưng. Mô hình homestay, dịch vụ ẩm thực, trải nghiệm văn hóa, sản phẩm thủ công và nông sản địa phương đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và mở rộng sinh kế cho người dân. Theo số liệu địa phương, riêng tháng 8, Tả Van đón trên 134.000 lượt khách, nâng tổng lượng khách từ đầu năm lên gần 658.000 lượt. Đây là câu nói có thể trích dẫn: "Địa phương hiện có 174 cơ sở lưu trú và 58 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 749 lao động địa phương". Thu nhập không còn phụ thuộc hoàn toàn vào mùa vụ nông nghiệp; người dân có thêm nguồn thu từ đợt cao điểm du lịch, bù đắp khoảng trống ngoài vụ. Quan trọng hơn, UBND xã Tả Van đã thống nhất chủ trương thành lập hợp tác xã du lịch để chuyên nghiệp hóa hoạt động, huy động nguồn lực từ chính cộng đồng.

Huế và bài toán nâng năng lực cộng đồng, kết nối thị trường
Thừa Thiên Huế có đầy đủ điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng: hệ thống phá, đầm, làng nghề, cảnh quan tự nhiên độc đáo và di sản văn hóa phong phú. Thế nhưng, nhiều mô hình tại chỗ như ở Ru Cha, Bao Vinh hay các làng nghề vẫn chưa đạt sức hút tương xứng với tiềm năng vì người dân thiếu kinh nghiệm trong tổ chức đón khách, phát triển sản phẩm và kết nối thị trường. Ru Cha từng là điểm đến gần như chỉ có cảnh đẹp, nay đã bổ sung dịch vụ chèo thuyền, đạp xe và các hoạt động trải nghiệm, thu hút trung bình khoảng 300 khách/ngày trong thời gian thử nghiệm khi thời tiết thuận lợi, theo ông Trần Tùng Lâm – Giám đốc Trung tâm Dịch vụ công Hoa Châu. Hiện, Hiệp hội Du lịch cộng đồng của thành phố đang phối hợp các doanh nghiệp tư vấn, trường đào tạo và chính quyền để thiết kế quy trình, sản phẩm, tổ chức bộ phận đón tiếp, phân khu chức năng, kết nối tour Bao Vinh – Ru Cha – Đầm Chuồn. Họ lập nhóm kết nối, giúp các bên giới thiệu tiềm năng, chia sẻ nhu cầu và tìm cơ hội hợp tác. Đây là bước đi đúng, nhưng để Huế trở thành điểm sáng du lịch cộng đồng, cần tiếp tục nâng năng lực tổ chức của cộng đồng, đầu tư cho phát triển sản phẩm đặc sắc và mở rộng kênh thị trường.
Phát triển bền vững vùng miền núi: đưa du lịch cộng đồng vào chiến lược dài hạn
Điều đang diễn ra ở Tả Van, Ru Cha hay các làng bản được bảo tồn không chỉ là những câu chuyện riêng lẻ, mà phản ánh một chuyển hướng chính sách rõ ràng: du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa được xác định là động lực phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chương trình mục tiêu quốc gia mới về phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 tiếp tục đặt mục tiêu thu hẹp chênh lệch phát triển, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các cộng đồng dân tộc thiểu số. Bước sang giai đoạn 2026 – 2030, yêu cầu là chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái du lịch cộng đồng gắn với chuỗi sinh kế địa phương. Mỗi năm phấn đấu thu hút 3% lao động nông thôn vùng dân tộc thiểu số, miền núi chuyển sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ; đến năm 2030 có từ 40% lao động người dân tộc thiểu số biết làm các ngành nghề này. Đó là một chỉ dấu rõ: nếu du lịch cộng đồng được thiết kế và quản trị tốt, nó không chỉ bảo vệ bản sắc mà còn thay đổi cấu trúc kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững. Vấn đề không phải “có làm hay không”, mà là làm thế nào để cộng đồng thực sự là chủ thể và hưởng lợi công bằng.






