Khoa học cơ bản Việt Nam: Nền móng của công nghệ chiến lược, không phải “xa xỉ phẩm”
Khoa học cơ bản Việt Nam là toàn bộ các hoạt động nghiên cứu nhằm tạo ra tri thức nền tảng mới, từ tự nhiên đến xã hội, làm cơ sở để phát triển công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và từng bước chuyển hóa thành các sản phẩm, dịch vụ có ứng dụng thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Điểm mấu chốt cần nhìn thẳng: nếu coi khoa học cơ bản là “xa xỉ phẩm” chỉ để công bố quốc tế, Việt Nam sẽ mãi đứng ngoài cuộc chơi công nghệ chiến lược quốc gia. Khoa học cơ bản (KHCB) đã được khẳng định là nền tảng phát triển công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng cao tự chủ công nghệ quốc gia. Nhưng năng lực chuyển hóa tri thức thành sản phẩm ứng dụng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Điều đó cho thấy vấn đề không nằm ở thiếu ý tưởng hay nhà khoa học, mà ở cách chúng ta tổ chức, tài trợ và đánh giá khoa học cơ bản.
Ngày 23/10/2026, một hội nghị khoa học lớn do Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức đã đặt thẳng câu hỏi: KHCB sẽ đóng góp thế nào cho các sản phẩm chiến lược quốc gia? Câu trả lời không thể là thêm vài bài báo, mà phải là những công nghệ lõi, những nền tảng dữ liệu, những giải pháp đi vào đời sống.

Từ tri thức đến công nghệ chiến lược quốc gia: 4 tầng chuyển hóa và khoảng trống ứng dụng
Muốn có công nghệ chiến lược quốc gia, không thể nhảy cóc từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Quá trình hình thành sản phẩm công nghệ chiến lược được khái quát qua 4 tầng: tri thức nền tảng, công nghệ nền tảng được kiểm chứng trong phòng thí nghiệm, công nghệ lõi được thử nghiệm trong thực tế và sản phẩm được thị trường hoặc xã hội tiếp nhận. Đây là lộ trình bắt buộc nếu Việt Nam muốn đi từ khoa học cơ bản đến tự chủ công nghệ, thay vì phụ thuộc nhập khẩu.
Quyết định 21/2026/QĐ-TTg đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, trải từ AI, chip bán dẫn, công nghệ lượng tử, vật liệu và năng lượng tiên tiến đến công nghệ sinh học. Đằng sau mỗi lĩnh vực đều là lớp dày tri thức KHCB: toán, vật lý, hóa, sinh, khoa học xã hội và nhân văn. Không có nghiên cứu cơ bản mạnh trong nước, việc tiếp nhận và sáng tạo công nghệ lõi sẽ luôn bị giới hạn.
Vấn đề là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và khả năng thương mại hóa vẫn còn lớn. Nhiều công trình dừng ở mức công nghệ nền tảng trong phòng thí nghiệm, thiếu kinh phí kiểm chứng, thiếu hạ tầng thử nghiệm và thiếu đội ngũ chuyên nghiệp về chuyển giao, chia sẻ rủi ro. Nói cách khác, chúng ta đã đầu tư cho tầng tri thức, nhưng lại bỏ trống tầng “cầu nối” để tri thức trở thành sản phẩm có ứng dụng thực tiễn.
Cần Thơ và bài học chuyển từ “quản lý hồ sơ” sang “đưa nghiên cứu vào cuộc sống”
Nếu Hà Nội cho thấy bức tranh chiến lược, thì Cần Thơ lại phơi bày những vướng mắc rất cụ thể ở tuyến địa phương: làm sao đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi ngăn tủ. Một hội thảo về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Cần Thơ đã đặt trọng tâm vào thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đây là tín hiệu tích cực: địa phương bắt đầu nhìn khoa học như động lực phát triển, không chỉ là nhiệm vụ hành chính.
Liên quan cơ chế tài chính, các đại biểu được giới thiệu Nghị định 265/2025/NĐ-CP về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, với quy định về lập dự toán, phân bổ, quản lý, khoán chi nhiệm vụ nghiên cứu, xử lý rủi ro và huy động nguồn lực xã hội. Việc nắm vững và vận dụng các quy định mới được xác định là yêu cầu quan trọng để triển khai nhiệm vụ hiệu quả, thay vì chỉ tập trung hoàn thiện thủ tục hành chính. Nói thẳng: nếu cơ chế tài chính vẫn trói tay nhà khoa học, mọi khẩu hiệu về thương mại hóa nghiên cứu sẽ chỉ dừng trên giấy.
Thực tế, Đại học Cần Thơ đã chứng minh tiềm năng khi từ năm 2021 đến tháng 6/2025 có 53 đơn đăng ký sáng chế và 24 văn bằng bảo hộ, chiếm hơn 76% đơn và hơn 77% văn bằng của cả thành phố theo phạm vi thống kê thời điểm đó. Nhưng để những sáng chế này không “chết yểu”, hoạt động thử nghiệm phải gắn với môi trường ứng dụng thực tế, từ sản xuất lúa, nuôi trồng thủy sản đến hoạt động nhà máy, thay vì chỉ dừng trong phòng thí nghiệm.

Tháo gỡ tài chính và thiết kế thương mại hóa ngay từ đề tài
Cơ chế tài chính đang là “nút thắt cổ chai” của thương mại hóa nghiên cứu. Nghị định 265/2025/NĐ-CP mở ra khả năng khoán chi nhiệm vụ, xử lý rủi ro và huy động nguồn lực xã hội, nhưng nếu các đơn vị chỉ coi đó là thêm một lớp thủ tục thì cơ hội sẽ bị bỏ lỡ. Việc thiếu kinh phí kiểm chứng công nghệ, thiếu hạ tầng thử nghiệm và thiếu nhân lực chuyên nghiệp về chuyển giao khiến quá trình phát triển sản phẩm gặp khó khăn.
Một thay đổi tư duy quan trọng là không xem thương mại hóa nghiên cứu như khâu cuối cùng. Theo phân tích tại hội thảo ở Cần Thơ, thương mại hóa cần được tính đến ngay từ khi thiết kế nhiệm vụ nghiên cứu, từ việc xác định nhu cầu thị trường, đối tác doanh nghiệp đến phương án bảo hộ và định giá tài sản trí tuệ. Nếu đề tài chỉ được “may đo” cho nghiệm thu, không cho thị trường, thì kết quả khó đi xa.
Hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vì thế phải được đánh giá bằng khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng, tạo ra giải pháp thiết thực phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống. Một sản phẩm dù đáp ứng yêu cầu kỹ thuật vẫn có thể thất bại nếu không phù hợp ngôn ngữ, văn hóa, hành vi người dùng hoặc yêu cầu quản trị dữ liệu. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn ngay từ giai đoạn thiết kế sản phẩm.
Tự chủ công nghệ đến 2045: Đầu tư dài hạn cho nhân lực và cơ chế “hậu kiểm”
Muốn tự chủ công nghệ, Việt Nam không thể chỉ chạy theo dự án ngắn hạn. KHCB được xác định là nền tảng để phát triển công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Trọng tâm không chỉ là tăng số lượng công bố mà còn nâng chất lượng nghiên cứu, tạo lập năng lực công nghệ và kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Hiện một trường đại học khoa học tự nhiên lớn đã có gần 500 nhà khoa học, trong đó 78% có trình độ tiến sĩ và 32% có học hàm giáo sư, phó giáo sư. Đây là lực lượng nòng cốt để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và tham gia phát triển nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Nhưng để đội ngũ này phát huy hết năng lực, chính sách phải đi trước: tài trợ đa niên 5–10 năm, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, chấp nhận rủi ro khoa học và áp dụng cơ chế bình duyệt đồng cấp trong chiến lược phát triển KHCB đến năm 2045.
Đào tạo nhân lực khoa học phải là quá trình liên tục từ phổ thông đến đại học, sau đại học và nghiên cứu chuyên nghiệp. Nếu không nuôi dưỡng thế hệ trẻ đủ nền tảng KHCB, mọi tham vọng về công nghệ chiến lược quốc gia sẽ thiếu người thực hiện. Bài toán của giai đoạn tới vì vậy rất rõ: tháo gỡ vướng mắc tài chính, thiết kế cơ chế đánh giá theo ứng dụng thực tiễn, đầu tư dài hạn cho con người – đó là con đường duy nhất để khoa học cơ bản Việt Nam đi trọn hành trình từ phòng thí nghiệm đến đời sống.






