Từ nhà thầu phụ đến tập đoàn công nghiệp năng lượng làm chủ EPC
Chiến lược nâng cấp năng lực EPC của Petrovietnam là quá trình xây dựng khả năng tự thiết kế, mua sắm, xây dựng và tích hợp tổng thể các dự án khí, LNG, kho dự trữ, đường ống và cải hoán nhà máy trên bờ, qua đó chuyển dịch từ vị thế nhà thầu phụ phụ thuộc vào đối tác nước ngoài sang vai trò tập đoàn công nghiệp năng lượng làm chủ chuỗi cung ứng và các dự án năng lượng Việt Nam quy mô lớn gắn với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.Định hướng này bám sát yêu cầu trong Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nhấn mạnh việc xây dựng các tập đoàn công nghiệp năng lượng trong nước có khả năng làm tổng thầu EPC những dự án lớn, hiện đại. Nội lực Petrovietnam được thể hiện qua khả năng phân công, huy động đồng bộ nguồn lực trong toàn chuỗi dự án, từ PV GAS, PV Power, BSR, PVFCCo, PVCFC đến lực lượng dịch vụ kỹ thuật PTSC. Điểm cốt lõi của sự chuyển dịch này là giữ lại nhiều hơn giá trị và tri thức trong nước, thay vì để chúng nằm ở nhà thầu ngoại.

Nâng cấp Nhà máy lọc dầu Dung Quất: thước đo năng lực EPC và an ninh năng lượng
Dự án Nâng cấp mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất là phép thử rõ nhất cho tham vọng Petrovietnam năng lực EPC trên bờ. Đây là dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, đã được Thủ tướng chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư. Việc ký hợp đồng EPC đánh dấu dự án chính thức bước vào giai đoạn triển khai, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho ngành lọc hóa dầu trong nước. Khi hoàn thành, dự án sẽ nâng công suất chế biến và nâng cấp chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn Euro V, qua đó góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Song song, nhà máy lọc dầu Dung Quất đã hoàn thành và đưa vào sử dụng bể chứa dầu thô dung tích 65.000 m³, nâng tổng sức chứa lên 585.000 m³. Công trình do BSR làm chủ đầu tư, liên danh do PTSC đứng đầu thực hiện EPC và PTSC Quảng Ngãi thi công, cho thấy Petrovietnam không còn chỉ là "nhà thầu phụ" mà đã tự tổ chức được các hạng mục khó trong một tổ hợp đang vận hành liên tục. Đây là ví dụ điển hình cho cách EPC nội khối đang trực tiếp củng cố năng lực dự trữ, một mắt xích quan trọng của an ninh năng lượng quốc gia.

Cụm khí điện đạm Cà Mau: xây chuỗi giá trị, không tối ưu từng mắt xích
Nếu Dung Quất là biểu tượng lọc dầu, thì cụm khí điện đạm Cà Mau là nơi Petrovietnam thể hiện tư duy chuỗi giá trị trong các dự án năng lượng Việt Nam. Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường ghi nhận nỗ lực của các đơn vị trong cụm Khí – Điện – Đạm Cà Mau và nhấn mạnh kết quả nửa đầu năm 2026 tạo cơ sở tích cực để hoàn thành kế hoạch. Tại đây, PV GAS thể hiện tầm nhìn chiến lược qua quy hoạch mặt bằng, quỹ đất, năng lực dự trữ và định hướng phát triển dài hạn cho hệ thống xử lý khí Cà Mau. Mục tiêu cuối cùng không phải tối đa hóa hiệu quả từng lĩnh vực riêng lẻ mà là tối ưu hóa hiệu quả toàn chuỗi Khí – Điện – Đạm Cà Mau. Khi phát triển cụm này, PTSC đã tham gia liên danh với đối tác nước ngoài thực hiện gói EPC nhà máy xử lý khí, kho chứa và cảng xuất sản phẩm của Nhà máy xử lý khí Cà Mau. Điều đó cho thấy Petrovietnam dùng EPC như công cụ để gắn kết khí, điện, đạm, thay vì coi mỗi nhà máy là một dự án rời rạc.

Khí, LNG, kho dự trữ, đường ống: mặt trận EPC trên bờ của Petrovietnam
An ninh năng lượng quốc gia ngày nay không chỉ nằm ở mỏ dầu, mà ở cả những công trình ít được chú ý: kho LNG, bồn bể, đường ống, cải hoán nhà máy. Các chuỗi khí – điện – đạm – hóa chất, hạ tầng nhập khẩu và tồn trữ LNG/LPG, đường ống, kho cảng, bồn bể, nhà máy điện, cải hoán nhà máy cùng các trung tâm công nghiệp – năng lượng sẽ tiếp tục tạo nhu cầu đầu tư lớn. Danh mục này phù hợp với năng lực Petrovietnam đã tích lũy, đồng thời đủ rộng để nâng tỷ lệ công việc do doanh nghiệp trong nước đảm nhận. Dự án Đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn đang trở thành thước đo mới cho khả năng tổ chức một công trình tuyến quy mô lớn của Tập đoàn. Với LNG, Tổng Giám đốc Petrovietnam yêu cầu PV GAS khẩn trương xây dựng phương án cụ thể, đánh giá toàn diện hiệu quả và thời điểm triển khai, đồng thời nhấn mạnh đây không phải câu chuyện riêng của PV GAS mà liên quan toàn bộ chuỗi giá trị. Kho LNG Thị Vải 1 triệu tấn là minh họa sinh động: PV GAS giữ vai trò đầu tư, còn PTSC tham gia liên danh tổng thầu EPC và trực tiếp thực hiện bồn chứa 180.000 m³ cùng hệ thống tiếp nhận, tồn trữ, tái hóa khí và kết nối. Đây là cách Petrovietnam dùng EPC để tăng mức độ độc lập trong chuỗi cung ứng năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhà thầu ngoại ở những hạ tầng mang tính nền tảng.

Từ kinh nghiệm tích lũy đến trách nhiệm dẫn dắt hệ sinh thái công nghiệp năng lượng
Điểm đáng nói trong hành trình Petrovietnam năng lực EPC không phải là vài hợp đồng lớn, mà là cả chặng đường tích lũy âm thầm từ những năm 2000. PTSC bắt đầu bằng việc lắp đặt bốn máy nén tại Nhà máy xử lý khí Dinh Cố và thực hiện EPC hai bể chứa condensate Nam Côn Sơn, qua đó làm quen với thiết bị công nghệ, bồn bể, bơm, đo đếm, đường ống và kết nối xây lắp với mua sắm, quản lý kỹ thuật và chạy thử. Khi Petrovietnam phát triển lĩnh vực lọc dầu với nhà máy lọc dầu Dung Quất, PTSC đảm nhận gói EPC hai bể chứa dầu thô và hệ thống bơm lưu huỳnh, với khối lượng thi công lớn hàng nghìn tấn kết cấu thép và hàng chục nghìn dia-inch đường ống. Danh mục EPC trên bờ của PTSC trong hệ sinh thái Petrovietnam đang mở rộng từ các chuỗi năng lượng trọng điểm sang tổ hợp công nghiệp và hạ tầng quan trọng trong nước. Theo định hướng Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, Petrovietnam không chỉ tranh thị phần dịch vụ kỹ thuật, mà nhận về trách nhiệm tổ chức và phát triển một hệ sinh thái công nghiệp đủ sức giữ lại ngày càng nhiều hơn giá trị, tri thức và quyền chủ động công nghệ cho đất nước. Nếu không kiên trì với con đường này, câu chuyện an ninh năng lượng quốc gia sẽ mãi bị chi phối bởi nhà thầu ngoại và các chuỗi cung ứng bên ngoài.







