Đo nghiên cứu bằng hiệu quả ngoài đồng ruộng
Chuyển giao nghiên cứu nông nghiệp là quá trình biến tri thức và kết quả khoa học thành ứng dụng thực tế, sản phẩm thương mại hoặc công cụ phục vụ quản lý nhà nước, với hiệu quả được kiểm chứng trong sản xuất. Đây là thước đo đúng hơn số lượng đề tài, và cũng là trọng tâm của mục tiêu ít nhất 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong giai đoạn 2026-2030.
Sáng 27/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp tại khu vực miền Bắc. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng và Thượng tướng Nguyễn Văn Long đồng chủ trì. Hội nghị đặt hiệu quả ứng dụng làm thước đo, phù hợp với tinh thần các nghị quyết về phát triển khoa học, công nghệ và nông nghiệp.
Định hướng này có cơ sở thực tiễn: giai đoạn 2021-2025, ngành triển khai 1.373 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhưng số đề tài tự thân không bảo đảm công nghệ sẽ đến được với người sản xuất. Thách thức vì thế không chỉ là nghiên cứu được gì, mà là kết quả có giải quyết đúng nhu cầu, đủ điều kiện thử nghiệm và có con đường tới thị trường hay không.
Khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến nơi sản xuất
Những kết quả đã có cho thấy công nghệ nông nghiệp có thể đem lại lợi ích rõ rệt khi được triển khai đúng cách. Giống mới, công nghệ sinh học, cơ giới hóa và quy trình canh tác tiên tiến giúp năng suất các giống lúa mới tăng khoảng 9,9%, sản lượng tăng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm. Hơn 2.000 mô hình công nghệ cao, tuần hoàn và giảm phát thải được áp dụng tại thực địa; hiệu quả kinh tế tăng khoảng 10-30%, đồng thời giảm chi phí đầu vào và nâng thu nhập người sản xuất.
Tuy nhiên, ngành vẫn vướng sản xuất nhỏ lẻ, nghiên cứu và chuyển giao dàn trải, hạn chế về giống và đầu vào, thiếu công nghệ bảo quản, chế biến sâu, dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số còn yếu. Liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp chưa chặt, khiến nhiều tiến bộ chậm đi vào sản xuất. Đây là điểm yếu của cả chuỗi: nghiên cứu có thể hoàn tất nhưng không có đơn vị thử nghiệm, sản xuất thử, đầu tư hoàn thiện hay đứng ra đưa sản phẩm đến người dùng.
Bởi vậy, mục tiêu 60% không nên được hiểu là một chỉ tiêu báo cáo, mà là cam kết thu hẹp khoảng cách giữa nơi tạo ra tri thức và nơi tạo ra giá trị. Nếu thiếu cơ chế giải quyết vướng mắc ở khâu thử nghiệm, sản xuất thử và thương mại hóa, tỷ lệ ứng dụng sẽ khó phản ánh tác động thật lên sản xuất nông nghiệp.
Nối đủ các mắt xích để công nghệ đến tay người sản xuất
Muốn chuyển giao công nghệ hiệu quả, cần nối nhu cầu ngành hàng và địa phương với năng lực nghiên cứu, vốn doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu đổi mới thực chất liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất theo chuỗi giá trị. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được xác định làm đầu mối kết nối nhu cầu với doanh nghiệp, lựa chọn đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp và hỗ trợ đưa sản phẩm ra thị trường.
Cách làm đó đòi hỏi bài toán nghiên cứu phải bắt đầu từ vấn đề cụ thể: giống cây, vật nuôi phù hợp; thức ăn, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; máy móc cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; truy xuất nguồn gốc; hay sản xuất gắn với môi trường và kinh tế tuần hoàn. Sau nghiên cứu cần có nơi thử nghiệm, sản xuất thử, đánh giá khả năng nhân rộng, rồi doanh nghiệp và hệ thống chế biến, tiêu thụ tiếp nhận. Nhà khoa học không thể tự gánh mọi mắt xích; cơ quan quản lý phải tháo gỡ thủ tục và điều phối, còn người sản xuất cần tham gia từ lúc xác định bài toán.
Các địa phương phía Bắc được yêu cầu chọn 3-5 bài toán ưu tiên trước ngày 15/11/2026, đồng thời làm rõ liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu gắn với vùng nguyên liệu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải hoàn thiện danh mục ưu tiên trước ngày 15/12/2026 để triển khai các nhiệm vụ đủ điều kiện trong quý I/2027. Mốc thời gian chỉ có ý nghĩa nếu đi cùng đầu mối chịu trách nhiệm và nguồn lực thực hiện.
Từ chỉ tiêu đến thay đổi có thể cảm nhận
Trong giai đoạn 2026-2030, ngành còn đặt mục tiêu nâng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng lên trên 55% và huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đạt 30-35% cho các nhiệm vụ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa, nhân rộng. Những mục tiêu này bổ trợ cho chỉ tiêu 60%: nghiên cứu phải gắn với năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, thay vì chỉ hoàn thành sản phẩm khoa học.
Để tạo chuyển biến, cần ưu tiên công nghệ có đầu ra rõ: giống tốt, vắc-xin thú y, chế phẩm sinh học, nông nghiệp chính xác, quản lý phát thải, quan trắc thông minh và kinh tế tuần hoàn. Cùng lúc, dữ liệu phải liên thông hơn và công nghệ bảo quản, chế biến sâu cần được quan tâm, nếu không thành quả ở khâu canh tác vẫn có thể mất giá trị sau thu hoạch.
Nông nghiệp là trụ đỡ kinh tế và gắn trực tiếp với sinh kế, đời sống của người dân, đặc biệt trong bối cảnh hơn 60% dân số sống ở nông thôn. Vì thế, thành công của mục tiêu 60% không nằm ở tỷ lệ được ghi nhận trên giấy, mà ở việc nông dân có công nghệ phù hợp, doanh nghiệp có động lực tiếp nhận và kết quả nghiên cứu tạo ra giá trị bền vững. Muốn đạt đích, quản lý, khoa học và sản xuất phải cùng chịu trách nhiệm cho toàn bộ hành trình từ bài toán đến thị trường.






