Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi làm nông dân sản xuất tốt hơn
Nông nghiệp số là việc ứng dụng dữ liệu, phần mềm và thiết bị kết nối vào sản xuất, quản lý và tiêu thụ nông sản, nhằm giúp người làm nông ra quyết định chính xác hơn, giảm công việc thủ công và tăng khả năng cạnh tranh. Với Lạng Sơn và Lai Châu, công nghệ không phải đích đến riêng lẻ: nó cần gắn với chất lượng sản phẩm, sinh kế nông dân và cách sử dụng tài nguyên.
Hai địa phương chọn những điểm xuất phát khác nhau nhưng cùng đáp ứng một nhu cầu cấp thiết. Lạng Sơn tập trung xây dựng hạ tầng số và đưa sản phẩm đến thị trường; Lai Châu chú trọng nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật để giải quyết điều kiện sản xuất miền núi. Chuyển đổi số trong nông nghiệp được xem là động lực thúc đẩy sản xuất hiện đại, hiệu quả và bền vững. Ở Lai Châu, địa hình chia cắt, độ dốc lớn, dân cư phân tán và điều kiện kinh tế còn khó khăn khiến khoa học công nghệ trở thành cách khai thác lợi thế, thay vì áp dụng một công thức sản xuất đồng loạt.
Lạng Sơn xây nền tảng số nối sản xuất với thị trường
Lạng Sơn chọn cách làm có thể kết nối nhiều khâu cùng lúc. Ngành nông nghiệp đã xây dựng trang thông tin OCOP và nông đặc sản, đồng thời triển khai phần mềm nông nghiệp thông minh và phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu tích hợp trên nền tảng số dùng chung. Hệ thống dữ liệu tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã cập nhật và khai thác thông tin; các công cụ truy xuất nguồn gốc, nhật ký sản xuất điện tử, tưới tự động và thương mại điện tử giúp nông sản địa phương có thêm cơ hội xây dựng thương hiệu, tiếp cận người mua.
Tác động dễ thấy nhất nằm ở công việc hằng ngày. Tại xã Chi Lăng, hệ thống tưới nhỏ giọt giúp vườn na sinh trưởng tốt, giảm công chăm sóc và duy trì năng suất, chất lượng đồng đều qua các vụ. Hợp tác xã chế biến cũng dùng công nghệ để tăng sản lượng, giảm lao động và kiểm soát chất lượng từng công đoạn; các video trên mạng xã hội giúp khách hàng ở xa quan sát quy trình sản xuất. Đây là hướng đi đáng chú ý: nền tảng số chỉ tạo giá trị khi thông tin đưa được nông sản ra khỏi giới hạn địa lý, chứ không dừng ở việc đưa thủ tục lên mạng.
Theo kế hoạch phát triển nông, lâm nghiệp chủ lực giai đoạn 2026–2030, Lạng Sơn đặt mục tiêu đến năm 2030 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12–13% cơ cấu kinh tế, với tốc độ tăng trưởng bình quân ít nhất 3,6% mỗi năm trong giai đoạn. Muốn đạt mục tiêu này, nền tảng số cần đi cùng năng lực chế biến, tiêu thụ và khả năng để nông hộ nhỏ tham gia.
Lai Châu đặt trọng tâm vào nghiên cứu và chuyển giao
Lai Châu bắt đầu từ câu hỏi khác: công nghệ nào phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu và sản phẩm đặc trưng của tỉnh? Trong giai đoạn 2021–2026, tỉnh phê duyệt, quản lý 26 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh trong lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời phối hợp quản lý 5 nhiệm vụ cấp quốc gia. Nghiên cứu đã hỗ trợ quy trình nhân giống, canh tác sâm Lai Châu và một số cây trồng khác; phục tráng giống lúa đặc sản, xây dựng quy trình sản xuất an toàn và mô hình chuối Phong Thổ theo tiêu chuẩn VietGAP.
Điểm mạnh của cách tiếp cận này là đưa kết quả nghiên cứu ra đồng ruộng. Tỉnh triển khai 85 mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trên tổng diện tích 280 ha, đồng thời chuyển giao 80 quy trình kỹ thuật cho 2.766 lượt người dân. Việc hỗ trợ nhãn hiệu cũng gắn khoa học với giá trị thương mại: giá bán của một số sản phẩm như chè Lai Châu, miến dong Bình Lư và chuối Phong Thổ tăng 20–30% so với trước khi xây dựng nhãn hiệu. Dù vậy, hiệu quả lâu dài phụ thuộc vào việc nông dân có tiếp tục áp dụng quy trình và giữ được chất lượng ổn định hay không.
Giai đoạn 2026–2030, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh xác định tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ theo nhu cầu thực tiễn. Đây là lựa chọn phù hợp với địa bàn mà khoảng cách và điều kiện canh tác có thể khiến giải pháp công nghệ chung khó phát huy tác dụng.

Nông nghiệp xanh cần được đo bằng cách sản xuất
Số hóa và nghiên cứu kỹ thuật sẽ chưa đủ để tạo nông nghiệp xanh nếu chỉ nhắm tới sản lượng. Lai Châu đang thúc đẩy sản xuất tiết kiệm tài nguyên, thân thiện môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu; tỉnh đã triển khai 12 dự án, mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp với tổng quy mô 46,7 ha. Tưới tiết kiệm, quản lý dịch hại tổng hợp và các mô hình canh tác hữu cơ có ý nghĩa thiết thực vì góp phần sử dụng đất, nước hiệu quả hơn, giảm chi phí đầu vào và hạn chế tác động môi trường.
Lạng Sơn và Lai Châu vì thế bổ sung cho nhau hơn là đi theo cùng một khuôn mẫu. Lạng Sơn xây công cụ quản lý và tiếp thị số; Lai Châu đầu tư vào tri thức kỹ thuật, quy trình canh tác và chuyển giao tới người sản xuất. Cả hai hướng đều cần gắn truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và sở hữu trí tuệ với đầu ra ổn định. Nếu công nghệ giúp tăng năng suất nhưng không giảm áp lực lên tài nguyên, mục tiêu xanh sẽ chỉ nằm trên giấy.
Kết luận, nền tảng số và khoa học kỹ thuật có thể nâng giá trị nông sản địa phương khi chúng giải quyết đúng những khó khăn của người làm nông: thiếu thông tin, tốn công, chất lượng không đồng đều và khó tiếp cận thị trường. Thước đo thuyết phục nhất không phải số phần mềm hay đề tài được triển khai, mà là thu nhập ổn định hơn, sản phẩm đáng tin cậy hơn và phương thức sản xuất bớt gây sức ép lên môi trường.







