Thương mại hóa khoa học: không phải thiếu nghiên cứu mà thiếu tác động
Thương mại hóa khoa học là quá trình chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp có giá trị trên thị trường, tạo nguồn thu cho tổ chức nghiên cứu và đem lại lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp, người lao động và người dân, thay vì chỉ dừng ở bài báo hay báo cáo học thuật. Hiện nay, Việt Nam không thiếu đề tài, bài báo, phòng thí nghiệm; vấn đề nằm ở chỗ sản lượng nghiên cứu không chuyển hóa tương xứng thành hiệu quả khoa học công nghệ và giá trị kinh tế – xã hội. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã gọi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực phát triển và nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh. Nhưng khi nguồn thu của nhiều trường đại học vẫn chủ yếu đến từ học phí, trong khi thu từ khoa học công nghệ “nhỏ giọt” dù hoạt động nghiên cứu tăng mạnh, thì câu hỏi phải đặt lại là: chúng ta đang đo lường thành công sai chỗ.
Ba nguyên nhân cốt lõi tạo nên khoảng cách nghiên cứu – thị trường
Theo một phó hiệu trưởng phụ trách khoa học công nghệ, có ba nguyên nhân cốt lõi khiến khoảng cách nghiên cứu thị trường luôn lớn và thương mại hóa khoa học không đạt kỳ vọng. Thứ nhất, phần lớn nghiên cứu trong nhà trường vẫn thiên về học thuật, phục vụ công bố, xếp hạng tạp chí hơn là giải bài toán cụ thể của doanh nghiệp hay nhu cầu thị trường; kết quả là ứng dụng nghiên cứu ít, tác động thực tế thấp. Thứ hai, nhiều sản phẩm chỉ dừng ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc nguyên mẫu, chưa hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng để có thể đưa ra thị trường, cần thêm thời gian và kinh phí nhưng thường bị bỏ dở giữa chừng. Thứ ba, các nhà khoa học chưa quen với nghiên cứu thị trường, marketing, xây dựng kênh phân phối nên lúng túng ở giai đoạn thương mại hóa, dù ý tưởng ban đầu có tiềm năng. Khoảng cách nghiên cứu thị trường vì thế không phải chuyện kỹ thuật, mà là một cấu trúc vận hành lệch khỏi thực tiễn.
Một câu nói rất đáng trích là: “Năm 2025, số lượng công bố bài báo khoa học của một trường là 1.104 bài trong đó khoảng 50% được xuất bản trên các tạp chí Scopus/WoS, nhưng nguồn thu từ hoạt động khoa học công nghệ vẫn rất thấp so với tiềm năng”. Con số ấy cho thấy thước đo hiện nay vẫn là số bài báo, không phải số sản phẩm thương mại hóa hay số hợp đồng chuyển giao công nghệ. Khi cơ chế tài chính, quyền sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích giữa trường – doanh nghiệp còn mơ hồ, nhất là với cơ sở công lập, doanh nghiệp càng ngại hợp tác vì sợ vướng thủ tục và rủi ro pháp lý. Nếu không tháo gỡ ba nút thắt này, mọi chính sách hỗ trợ thương mại hóa khoa học sẽ tiếp tục "chảy" vào thống kê hơn là chảy vào thị trường.

Từ phòng thí nghiệm ra cánh đồng: đo hiệu quả khoa học bằng cuộc sống
Một chuyên gia kinh tế nhấn mạnh rằng thước đo của hiệu quả khoa học công nghệ không phải là số đề tài, số dự án, mà là năng suất lao động, sức cạnh tranh doanh nghiệp và đời sống người dân được cải thiện hay không. Ông kể lại chuyến đi khoảng năm 2004 cùng nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn sang thăm cơ sở nuôi cấy mô tại Quảng Tây, nơi các nhà khoa học và nông dân cùng làm việc, cùng vận hành công nghệ. Bài học không nằm ở kỹ thuật nuôi cấy mô, mà ở chỗ nhà khoa học bước ra khỏi phòng thí nghiệm, đi thẳng vào chuỗi sản xuất, nắm tay người nông dân để chuyển giao kỹ thuật. Trái lại, trên nhiều cánh đồng Bắc Bộ, người nông dân Việt vẫn phải oằn lưng cấy lúa, đắp bờ, cuốc đất trên ruộng manh mún. Đó là hình ảnh rất rõ của một nền thương mại hóa khoa học chưa hoàn thành hành trình: tri thức dừng lại trên giấy, trong báo cáo, không thành máy móc, quy trình, giống cây, dịch vụ hỗ trợ cụ thể.
Vấn đề vì vậy không chỉ là Nhà nước chi bao nhiêu tiền hay ban hành bao nhiêu chương trình, mà là khoa học công nghệ có "đi" được vào doanh nghiệp, cánh đồng, nhà máy, bệnh viện, cơ quan hành chính hay không. Người nông dân cần công nghệ để giảm sức lao động, tăng năng suất; công nhân cần dây chuyền hiện đại để tạo ra sản phẩm giá trị cao hơn; bệnh nhân cần chẩn đoán nhanh, điều trị tốt hơn; người dân cần thủ tục hành chính số đơn giản, ít thời gian hơn. Nếu các chính sách khoa học công nghệ không trả lời được câu hỏi rất cụ thể: sản phẩm cuối cùng có giúp người dân làm việc hiệu quả hơn, thu nhập cao hơn, cuộc sống thuận lợi hơn hay không, thì mọi báo cáo thành tích sẽ chỉ là những con số trôi nổi, không trở thành hiệu quả khoa học công nghệ đúng nghĩa.
Thay thước đo, đổi vai trò nhà khoa học để thu hẹp khoảng cách
Muốn ứng dụng nghiên cứu tốt hơn, điều đầu tiên phải làm là thay thước đo thành công. Không thể tiếp tục coi số bài báo, số đề tài nghiệm thu là đích đến; phải chuyển sang đo bằng số sản phẩm được thương mại hóa, số bằng sáng chế, số hợp đồng chuyển giao, và tác động thực chất lên kinh tế – xã hội. Một chuyên gia đề xuất rõ: “Không lấy thành tích làm đích đến, mà lấy hiệu quả thực tiễn, năng suất lao động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và đời sống người dân làm thước đo”. Điều này kéo theo thay đổi trong cách phân bổ ngân sách – đầu tư trọng điểm cho các phòng thí nghiệm chiến lược, gắn chặt với định hướng phát triển và nhu cầu của doanh nghiệp, tránh dàn trải. Nhà nước kiến tạo thể chế, còn khoa học công nghệ phải trở thành một bộ phận tự nhiên của nền kinh tế, không đứng ngoài thị trường.
Vai trò của nhà khoa học cũng cần mở rộng: từ người tạo tri thức sang người đồng sáng tạo giá trị với doanh nghiệp và cộng đồng. Nhà khoa học không nên chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rồi chờ người khác tìm cách ứng dụng; họ phải đi đến cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, cánh đồng, làng nghề, trực tiếp hướng dẫn, chuyển giao và cùng người sản xuất giải quyết vấn đề cụ thể. Điều đó đòi hỏi chuyển từ tư duy “nghiên cứu cái mình có” sang “nghiên cứu cái xã hội cần”. Về phía cơ sở đào tạo, nhiều nơi bắt đầu xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, đầu tư phòng thí nghiệm trọng điểm và tăng cường đặt hàng nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn. Một trường đã phối hợp với một tập đoàn năng lượng để xây dựng 12 đề xuất nghiên cứu, trong đó 4 đề xuất được phê duyệt. Những động thái này cho thấy khi nhà khoa học bước ra khỏi tháp ngà, khoảng cách nghiên cứu thị trường có thể được thu hẹp nhanh hơn mọi nghị quyết trên giấy.
Kết luận: Khoa học phải trả lời được câu hỏi của đời sống
Thương mại hóa khoa học ở Việt Nam đang bị kẹt giữa một bên là thành tích học thuật tăng nhanh, một bên là nguồn thu và tác động thực tế tăng chậm. Công trình nghiên cứu nhiều nhưng nguồn thu “nhỏ giọt” vì khoảng cách nghiên cứu thị trường lớn, sản phẩm dừng ở mức nguyên mẫu, và nhà khoa học thiếu kỹ năng đưa sản phẩm ra thị trường. Đồng thời, hình ảnh người nông dân vẫn oằn lưng trên cánh đồng cho thấy khoa học công nghệ chưa đi hết chặng đường từ phòng thí nghiệm tới đời sống. Những nghị quyết mới đã mở khung thể chế, trao thêm tự chủ cho trường đại học, tạo cơ hội gắn nghiên cứu với đặt hàng thực tiễn. Nhưng cốt lõi vẫn là tư duy: chỉ khi chúng ta đo thành công bằng hiệu quả trong cuộc sống và khi nhà khoa học chủ động bước vào chuỗi sản xuất, mọi ứng dụng nghiên cứu mới thực sự biến thành sức mạnh phát triển.






