Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Những người giữ lửa hát truyền thống: từ đờn ca tài tử đến opera Việt Nam

Những người giữ lửa hát truyền thống: từ đờn ca tài tử đến opera Việt Nam
Sở thích|Ca hát

Giữ gìn nghệ thuật là dám sống chậm giữa thời ồn ào

Giữ gìn nghệ thuật hát truyền thống là lựa chọn sống chậm, bền bỉ luyện tập và truyền dạy những làn điệu cổ trong đời sống hiện đại, biến căn nhà nhỏ, ngôi đền làng hay sân khấu hàn lâm thành không gian lưu giữ ký ức âm nhạc và bản sắc tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh đô thị hóa và giải trí nhanh, những người vẫn quyết ở lại với đờn ca tài tử, chầu văn truyền thống hay opera Việt Nam không chỉ hoài niệm mà đang âm thầm định nghĩa lại câu hỏi: chúng ta là ai.

Điểm chung của họ không phải là danh xưng, mà là thái độ: xem nghệ thuật như phần công việc đời mình chứ không phải thú chơi. Vợ chồng Nguyễn Thanh Long – Nguyễn Thị Thanh Thảo, nghệ nhân Nguyễn Văn Chung và NSND Văn Hà cùng chứng minh một điều không dễ nghe: nếu thế hệ hôm nay lười học, lười nghe, thì di sản không mất vì “thời thế” mà vì chính sự thờ ơ của chúng ta.

Căn nhà nhỏ của đờn ca tài tử ở An Giang

Giữa nhịp sống đô thị Rạch Giá sôi động, vợ chồng ông Nguyễn Thanh Long và bà Nguyễn Thị Thanh Thảo vẫn bền bỉ gìn giữ nghệ thuật đờn ca tài tử, góp phần lưu giữ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Dù cuộc sống thay đổi, tiếng đờn, lời ca vẫn ngân vang mỗi ngày trong căn nhà nhỏ của họ. Không phải nhà hát, không loa đài hoành tráng, nhưng đó lại là “thính phòng” đúng nghĩa, nơi âm nhạc gắn với hơi thở gia đình và xóm giềng.

Truyền thống đờn ca tài tử của bà Thảo được hun đúc từ ông ngoại – ông Lâm Nhật Tân, người từng lập Câu lạc bộ Hữu Tâm, rồi tiếp nối qua mẹ, các cậu như ông Lâm Hữu Tú, ông Đoàn Dự. Mới 9 tuổi bà đã lên sân khấu, 15 tuổi giành giải nhất tiếng hát trẻ huyện Giồng Riềng (cũ). Ông Long thì mê tiếng đờn của cậu từ thuở nhỏ, rồi gặp bà Thảo trong một buổi biểu diễn gây quỹ từ thiện năm 1990, nên duyên vợ chồng từ chính sân khấu ấy. Hôm nay, hàng ghế đá dưới tán xoài trước nhà đã thành lớp học 0 đồng cho người yêu đờn ca tài tử, bởi ông Long tự nhắc mình: “Ngày xưa thầy dạy tôi không lấy tiền… để bảo tồn nghệ thuật đờn ca tài tử của dân tộc”.

Điều đáng nói là họ không giữ nghệ thuật như món đồ trưng bày. Gia đình ông Long cùng Câu lạc bộ đờn ca tài tử khu phố Nam Cao chủ động phối hợp bảo tàng, thư viện và trường học để biểu diễn, giao lưu với học sinh, sinh viên. Họ hiểu rằng, nếu đờn ca tài tử chỉ sống trong ký ức người lớn tuổi, nó sẽ chết nhanh hơn chúng ta tưởng. Những ca sĩ truyền thống bước ra từ căn nhà ấy – dù không nổi tiếng – lại là lực lượng âm thầm đưa di sản len vào trường lớp, sân trường, lễ hội địa phương.

Chầu văn truyền thống và hành trình lặng lẽ của Nguyễn Văn Chung

Nếu vợ chồng ông Long – bà Thảo là hình ảnh đờn ca tài tử trong căn nhà vùng sông nước, thì nghệ nhân ưu tú Nguyễn Văn Chung là gương mặt tiêu biểu của chầu văn truyền thống nơi đền phủ. Ông được ghi nhận đã có nhiều đóng góp trong việc gìn giữ và phát huy giá trị nghệ thuật của hát chầu văn. Tình yêu ấy bắt đầu từ tuổi thiếu niên, khi ông nghe chương trình dân ca, nhạc truyền thống trên Đài Tiếng nói Việt Nam và xem nghệ sĩ biểu diễn trong các lễ hội làng.

Theo ông Chung, hát chầu văn là hình thức âm nhạc nghi lễ gắn với thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, một di sản được UNESCO ghi danh là đại diện di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhưng ông không thần bí hóa nó. Ông coi đó là một ngôn ngữ âm nhạc giàu giai điệu, ca từ bằng chữ Nôm, Hán hoặc Quốc ngữ, phản ánh sắc thái vùng miền. Năm 1990, ông tiếp tục học với các nghệ nhân lão luyện ở Hà Nội và Ninh Bình để trau dồi kỹ năng nhạc cụ, tiết tấu và lối hát truyền thống; đến năm 1998, khi đã thuần thục cả đàn lẫn hát, ông thực hành chầu văn ở nhiều đền phủ trên cả nước.

Câu chuyện giữ gìn nghệ thuật ở đây không dừng ở bản thân ông. Tính đến nay, ông đã đào tạo khoảng 200 học trò thuộc nhiều thế hệ khác nhau – những người tiếp tục nối dài và lan tỏa nghệ thuật chầu văn. Năm 2012, khi Câu lạc bộ Bảo tồn Nghệ thuật Hát Văn Việt Nam được thành lập, ông được giao trọng trách Phó Chủ nhiệm. Chính ông thẳng thắn thừa nhận: sức sống của di sản chỉ được nuôi bằng thực hành và truyền dạy bền bỉ. Cụm từ “ca sĩ truyền thống” ở đây không phải là danh hiệu cho người đứng sân khấu lớn, mà là cho bất kỳ ai đủ kiên nhẫn học từng làn điệu, từng câu văn, hiểu từng tầng nghĩa trước khi cất tiếng hát.

NSND Văn Hà: từ cánh đồng Cầu Giấy đến nền opera Việt Nam

Nếu ở An Giang hay Ninh Bình, di sản nép mình trong nhà dân, đền phủ, thì với NSND Văn Hà, hành trình giữ gìn nghệ thuật diễn ra trên những sân khấu hàn lâm. Hơn nửa thế kỷ bền bỉ cống hiến, ông đã vượt qua thăng trầm lịch sử và khói lửa chiến tranh, vẫn giữ nguyên giấc mơ “Việt Nam hóa” opera, tiếp tục soi đường cho thế hệ hôm nay. Xuất thân từ khu văn công Cầu Giấy với những mái nhà tranh, tường đất, ông cùng thế hệ nghệ sĩ đầu tiên đặt những viên gạch cho nghệ thuật hàn lâm nước nhà.

Ngày 07/5/1964, Bộ Văn hóa quyết định thành lập Nhà hát Giao hưởng – Hợp xướng – Ca – Vũ – Kịch Việt Nam. Trong bối cảnh chiến tranh, những tác phẩm hợp xướng và nhạc kịch như Cô Sao, Núi rừng hãy lên tiếng, Ruồi Trâu, Bên bờ Krông Pa, Người tạc tượng, các vở vũ kịch Chị Sứ, Phá lao… trở thành cột mốc quan trọng cho nền kịch hát hàn lâm. Sau thời gian học đạo diễn opera tại Viện Hàn lâm Nghệ thuật Quốc gia Moscow, nơi ông từng dàn dựng thành công nhiều trích đoạn kinh điển và dựng trọn vẹn Pagliacci gây tiếng vang, ông về nước với vị trí Tổng đạo diễn – Phó Giám đốc Nhà hát Giao hưởng – Hợp xướng – Nhạc vũ kịch Việt Nam, dành trọn tâm huyết dựng xây nền móng cho opera và opérette trong nước.

Nhiều đồng nghiệp đánh giá ông là đạo diễn nhạc kịch đầu tiên và duy nhất có nhiều công lao cho âm nhạc bác học Việt Nam, người đặt nền móng cho nhạc kịch và kịch hát nước nhà, suốt 56 năm vẫn bền bỉ làm đạo diễn, tác giả, nhà đào tạo. Ngọn lửa ấy tiếp tục qua các thế hệ như nhạc trưởng Lê Ha My, minh chứng rằng opera Việt Nam không phải bản sao chép châu Âu, mà là nỗ lực kết hợp cấu trúc âm nhạc cổ điển với “cái hồn” giai điệu dân tộc, thậm chí tiếp nhận cả nhịp điệu pop, rock, jazz theo tinh thần đề xuất của chính ông. Câu hỏi ông đặt ra cho nền nhạc kịch – làm sao phù hợp tâm lý, thẩm mỹ công chúng hiện nay mà không đánh mất bản sắc – vẫn là bài toán chưa lời giải trọn vẹn.

Những người giữ lửa hát truyền thống: từ đờn ca tài tử đến opera Việt Nam

Di sản sẽ sống hay chết tùy thái độ của mỗi người nghe

Nhìn vào ba hành trình – căn nhà đờn ca tài tử, đền phủ chầu văn truyền thống và sân khấu opera Việt Nam – điều dễ thấy nhất là: mọi giá trị đều đi qua thân phận cụ thể. Vợ chồng ông Long từng trải bao thăng trầm, vẫn chọn nghề đờn để nuôi gia đình. Nghệ nhân Nguyễn Văn Chung chứng minh rằng di sản tồn tại nhờ thực hành liên tục và ít nhất 200 học trò của ông là câu trả lời rõ ràng nhất cho sức sống ấy. NSND Văn Hà thì bước qua cả chiến tranh để giữ giấc mơ nghệ thuật bác học cho nước nhà.

Vấn đề không nằm ở chỗ liệu đờn ca tài tử hay chầu văn có “hợp thị hiếu” hay không, hay opera có “kén người nghe” hay không. Câu hỏi quan trọng hơn là: chúng ta có còn coi ca sĩ truyền thống – những người đứng ở đền làng, nhà văn công, lớp học 0 đồng – là phần thiết yếu của đời sống tinh thần mình. Di sản sẽ chết nếu chỉ nằm trên danh sách UNESCO, sách giáo khoa hay trong hồ sơ nhà hát; nó chỉ sống khi có người tiếp tục học, tiếp tục nghe, tiếp tục tranh luận xem nên giữ gì, nên đổi mới gì. Và ở đó, mỗi người nghe – dù ở Rạch Giá, Ninh Bình hay Hà Nội – đều có trách nhiệm với tiếng hát quê mình.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!