Từ ngoại giao cấp cao đến lợi ích đo được cho doanh nghiệp Việt
Chuyến công du Mỹ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là hoạt động đối ngoại cấp cao nhằm tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, kết hợp các cuộc tiếp xúc song phương, qua đó tạo thêm động lực mới để quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Mỹ phát triển thực chất, hiệu quả và đem lại lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp, người lao động và thế hệ trẻ hai nước.
Điểm mấu chốt của chuyến công du lần này không phải là thêm một tuyên bố hữu hảo, mà là khả năng “chuyển hóa các cam kết và tin cậy chính trị thành những kết quả cụ thể, có thể đo lường, cảm nhận được trong thực tiễn”. Nói thẳng, quan hệ Việt Nam Mỹ chỉ thực sự bền nếu doanh nghiệp hai bên kiếm được đơn hàng mới, công nghệ mới và việc làm tốt hơn cho người dân. Từ ngày 20 đến 25-9, Tổng Bí thư Tô Lâm tham dự phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng LHQ và có các hoạt động song phương tại Mỹ, sau đó thăm cấp Nhà nước tới Canada. Đây là “cửa sổ thời gian” để Việt Nam đòi hỏi các cơ chế hợp tác kinh tế cụ thể, thay vì chỉ dừng ở những cụm từ hoa mỹ về Đối tác chiến lược toàn diện.
AmCham và thông điệp: niềm tin phải đi kèm hợp đồng, chuỗi cung ứng, công nghệ
Nhìn từ phía doanh nghiệp Mỹ, Chủ tịch AmCham Việt Nam Mark Gillin đặt kỳ vọng rất rõ ràng: chuyến công du của Tổng Bí thư Tô Lâm phải củng cố niềm tin, giải quyết các vướng mắc thương mại và mở thêm cơ hội xuất khẩu, đầu tư song phương. Quan hệ thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa hai bên đã tăng gần 40% chỉ trong một năm, cho thấy “cơn khát” hợp tác là có thật. Nếu Việt Nam không nâng cấp chất lượng thể chế và hạ tầng, dòng chảy này hoàn toàn có thể chững lại hoặc chảy sang quốc gia khác.
AmCham không giấu tham vọng mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ, năng lượng, hàng không, nông nghiệp và sản xuất tiên tiến. Đây là những ngành mà Mỹ có lợi thế công nghệ, vốn và quản trị, còn Việt Nam có nhu cầu nâng cấp chuỗi giá trị. Câu hỏi không phải là có bao nhiêu bản ghi nhớ được ký, mà là sau chuyến thăm, bao nhiêu dự án thực sự đi vào hoạt động, tạo việc làm chất lượng cao, chuyển giao công nghệ và giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính cộng đồng doanh nghiệp sẽ là bên “chấm điểm” mức độ thành công của chuyến công du này.

Nhu cầu Việt Nam, thế mạnh Mỹ: bản đồ cơ hội mới cho hợp tác kinh tế song phương
Về cấu trúc, hai nền kinh tế có nhiều mảnh ghép bổ sung nhau. Việt Nam cần vốn dài hạn, công nghệ cao, hạ tầng chất lượng và năng lực quản trị hiện đại; Mỹ lại dư thế mạnh ở chính những lĩnh vực này, từ công nghệ, tài chính đến kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp toàn cầu. Điều này tạo nền tảng thuận lợi để hợp tác kinh tế song phương bứt phá, nếu Việt Nam dám đặt yêu cầu cao hơn về chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ, thay vì chấp nhận vai trò “công xưởng gia công” kéo dài.
Một loạt lĩnh vực đang nổi lên như các trụ cột chiến lược: bán dẫn, sản xuất tiên tiến, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, năng lượng, hàng không và hạ tầng. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, đặc biệt khi các doanh nghiệp Mỹ muốn đa dạng hóa khỏi những thị trường rủi ro hơn. Hạ tầng chất lượng cao như năng lượng sạch, lưới điện hiện đại, logistics, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, nông nghiệp công nghệ cao và ứng phó biến đổi khí hậu vừa đáp ứng nhu cầu của Việt Nam, vừa mở “sân chơi” đúng sở trường cho doanh nghiệp Mỹ. Nếu biết đòi hỏi, Việt Nam có thể biến nhu cầu phát triển của mình thành đòn bẩy để mặc cả những điều kiện hợp tác có lợi hơn.
Người trẻ Việt tại Mỹ: mong những cây cầu kinh tế đi kèm cầu văn hóa, giáo dục
Cộng đồng sinh viên và trí thức trẻ Việt Nam tại Mỹ không chỉ dõi theo quan hệ Việt Nam Mỹ bằng con số thương mại, mà bằng cơ hội rất đời thường: học bổng, chương trình nghiên cứu, thực tập, việc làm và khởi nghiệp. Nhiều sinh viên kỳ vọng chuyến công tác của Tổng Bí thư Tô Lâm sẽ góp phần lan tỏa hình ảnh một Việt Nam năng động, cởi mở, yêu chuộng hòa bình và chủ động đóng góp cho cộng đồng quốc tế. Họ mong từ các thỏa thuận vĩ mô sẽ nảy sinh thêm cơ hội học tập, nghiên cứu, việc làm, giao lưu văn hóa và kết nối thế hệ trẻ hai nước.
Những “cây cầu” mới không chỉ là hiệp định hay diễn đàn, mà là liên kết giữa trường đại học với trường đại học, nhà khoa học với nhà khoa học, doanh nghiệp với nguồn nhân lực trẻ, cộng đồng người Việt với bạn bè Mỹ và quốc tế. Khi các chương trình đào tạo giúp người lao động tiếp cận kỹ năng mới, giải pháp công nghệ nâng năng suất doanh nghiệp và mô hình hợp tác về năng lượng, y tế, giáo dục, môi trường cải thiện chất lượng sống người dân, đó mới là kết quả thực chất của hợp tác. Nói cách khác, nếu sau chuyến công du, người trẻ cảm nhận được thêm đường đi để tiếp cận tri thức, công nghệ và mạng lưới quốc tế, thì quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện mới có “hồn”, chứ không chỉ có “vỏ”.
Kết luận: Thời điểm đòi hỏi Việt Nam phải chủ động đặt điều kiện “win-win” mới
Chuyến công du Mỹ lần này diễn ra đúng lúc quan hệ Việt Nam Mỹ phát triển nhanh và mạnh, trong bối cảnh kinh tế, thương mại thế giới biến động và cạnh tranh chuỗi cung ứng ngày càng gay gắt. Đây không chỉ là chuyến đi “củng cố tình cảm”, mà là bài kiểm tra về năng lực thiết kế lợi ích dài hạn: làm sao vừa duy trì quan hệ ổn định, cân bằng, lâu dài và cùng có lợi, vừa bảo đảm Việt Nam giữ được tự chủ và khả năng chống chịu trước bất định toàn cầu.
Theo giới doanh nghiệp, ưu tiên sau chuyến thăm là triển khai thực hiện, biến các thỏa thuận và nội dung thảo luận thành khoản đầu tư cụ thể, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này đòi hỏi Hà Nội phải chủ động đặt điều kiện “win-win” mới: chọn lọc dòng vốn dài hạn, công nghệ cao, thân thiện môi trường, gắn với mục tiêu nâng cấp công nghiệp trong nước. Nếu làm được, chuyến công du của Tổng Bí thư Tô Lâm sẽ không chỉ là dấu ấn ngoại giao, mà là bước ngoặt cho doanh nghiệp Việt trong cuộc chơi hợp tác kinh tế song phương với Mỹ.






