Chuẩn bị lớp Một: không chỉ là ngày tựu trường mà là cả một hệ thống hỗ trợ sớm
Chuẩn bị lớp Một cho trẻ vùng cao là quá trình xây dựng nền tảng tiếng Việt, dinh dưỡng, sách vở và môi trường học tập trước khi các em bước vào tiểu học, nhằm giúp trẻ dân tộc thiểu số không bị bỡ ngỡ, theo kịp chương trình và giảm nguy cơ bỏ học sớm. Điểm đáng mừng là cách tiếp cận của nhiều địa phương đã thay đổi: thay vì đợi trẻ gặp khó mới “chữa cháy”, chính quyền và nhà trường chủ động tháo gỡ rào cản ngay từ trước ngày tựu trường. Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 yêu cầu các địa phương bảo đảm giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị, sách giáo khoa và ưu tiên nguồn lực cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và địa bàn khó khăn. Đây không phải là sự ưu ái mang tính từ thiện, mà là đầu tư tối thiểu để bảo đảm quyền học tập bình đẳng cho trẻ em ở những nơi xa xôi nhất.

Tiếng Việt là nền tảng: giải bài toán ngôn ngữ trước khi trẻ bước vào lớp Một
Nếu không nhìn thẳng vào rào cản ngôn ngữ, mọi khẩu hiệu về “bình đẳng cơ hội” với trẻ dân tộc thiểu số sẽ chỉ là lời nói tốt đẹp. Ở nhiều bản làng vùng cao, tiếng mẹ đẻ được dùng gần như tuyệt đối trong gia đình và cộng đồng, nên khi vào lớp Một, yêu cầu nghe – hiểu – nói – đọc tiếng Việt là một cú chuyển khó. Nhận rõ điều đó, Quảng Trị ban hành Nghị quyết số 22/2026/NQ-HĐND về dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1, hỗ trợ giáo viên 360.000 đồng mua đồ dùng dạy học, mỗi trẻ 310.000 đồng bộ đồ dùng học tập, tiền dạy 150.000 đồng/tiết, tối đa 80 tiết trong dịp hè. Tác động không nằm ở vài trăm nghìn hỗ trợ, mà ở việc trẻ làm quen tiếng Việt, nề nếp học tập để khi vào chính khóa, giáo viên có thêm thời gian cho nội dung kiến thức thay vì mãi loay hoay dịch hiểu cho học sinh.

Từ Lũng Phìn đến các chính sách địa phương: tùy chỉnh hỗ trợ theo nhóm học sinh
Khi nhìn vào từng xã cụ thể, có thể thấy sự chuẩn bị lớp Một cho trẻ vùng cao ngày càng “may đo” theo nhu cầu thực tế, thay vì áp dụng chung chung. Tại xã Lũng Phìn (Tuyên Quang), ba trường tiểu học trên địa bàn đã chủ động tổ chức các lớp làm quen, tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một; toàn xã đã mở 17 lớp với hơn 400 trẻ tham gia. Các tiết học tập trung tạo môi trường để trẻ nghe, nói, sử dụng tiếng Việt tự nhiên qua trò chơi ngôn ngữ, tranh ảnh, bài hát, câu chuyện, thay vì nhồi kiến thức như lớp chính khóa. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngôn ngữ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp nhận giáo dục; trẻ vào lớp Một với vốn tiếng Việt hạn chế dễ gặp khó ngay từ việc hiểu lời cô giáo, đọc yêu cầu bài tập, giao tiếp với bạn bè. Khi các trường theo dõi khả năng sử dụng tiếng Việt của từng em và hỗ trợ từng bước, trẻ không bị ép phải thành thạo trong thời gian ngắn mà vẫn có cơ hội bắt kịp bản, mở ra hành trình học tập dài hơn.

Sách vở, nội trú, dinh dưỡng: những điều tưởng nhỏ nhưng giữ bước chân trẻ ở lại trường
Ngôn ngữ là điều kiện cần, nhưng không đủ để trẻ vùng cao bám trường; nếu bụng đói, đường xa, thiếu sách vở, mọi nỗ lực dạy tiếng Việt cho trẻ sẽ bị suy yếu. Thành phố Huế thông qua Nghị quyết số 47/NQ-HĐND, miễn phí sách giáo khoa cho học sinh từ năm học 2026–2027, từ nguồn ngân sách địa phương và các nguồn hợp pháp khác. Một bộ sách được cấp đúng lúc không chỉ giảm chi đầu năm, mà còn tránh cảnh học sinh miền núi dùng sách thiếu, không đồng bộ. Nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Sơn La, Lạng Sơn đã chuẩn hóa danh mục trang cấp cho học sinh trường nội trú xã biên giới, gồm đồng phục, học phẩm hằng năm; chăn, màn, chiếu, đệm, gối và vật dụng sinh hoạt cấp một lần mỗi cấp học. Ở Lào Cai, khoảng cách 2 km với tiểu học, 4 km với THCS, 6 km với THPT được dùng để xác định học sinh không thể đi – về trong ngày ở địa bàn cách trở, qua dốc cao, suối nguy hiểm. Nếu học phẩm là chi phí đầu năm thì bữa ăn lại quyết định khả năng bám trường từng ngày; Nghị quyết số 85/2026/NQ-HĐND của Gia Lai hỗ trợ thêm 160.000 đồng/trẻ mầm non/tháng cho tiền ăn trưa, tối đa 9 tháng, cùng các mức hỗ trợ với học sinh dân tộc thiểu số bán trú và thuộc hộ nghèo. Đà Nẵng thì chọn hướng can thiệp dinh dưỡng bằng sữa tươi: trẻ 24–36 tháng dùng 110 ml/ngày, trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học 180 ml/ngày, tối đa 5 ngày/tuần. Khi trường nội trú đi cùng nguồn lực cho bữa ăn, sinh hoạt, đi lại và đội ngũ, khoảng cách địa lý mới được rút ngắn thực sự, không chỉ trên giấy.

Đầu tư sớm để giảm bỏ lại lớp: chuẩn bị lớp Một phải trở thành ưu tiên dài hạn
Câu hỏi quan trọng không phải là đã chi bao nhiêu tiền, mà là những hỗ trợ chuẩn bị lớp Một có đổi được hành trình học tập của trẻ vùng cao hay không. Các nguồn lực tăng cường tiếng Việt cho trẻ, miễn phí sách giáo khoa, hỗ trợ suất ăn, nội trú, đi lại chỉ thật sự có ý nghĩa nếu chúng kéo giảm tỷ lệ bỏ lại lớp, nâng số trẻ hoàn thành giáo dục phổ thông. Điều cần đo đếm cuối cùng là số học sinh ra lớp đúng hạn, tỷ lệ chuyên cần, tình trạng dinh dưỡng, khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ vào lớp 1 và số em có nguy cơ bỏ học được giữ lại. Khi những chỉ số đó chuyển biến tích cực, các khoản hỗ trợ mới trở thành đầu tư cho cơ hội học tập bình đẳng. Một đứa trẻ biết thêm một câu tiếng Việt hôm nay có thể chưa tạo ra thay đổi lớn, nhưng khi mỗi ngày các em có thêm một vài từ mới, biết đặt câu, kể chuyện, hỏi khi chưa hiểu, những thay đổi nhỏ ấy dần tạo thành nền tảng cho việc học tập dài lâu. Trong điều kiện giáo dục vùng cao còn khó khăn về giao thông, kinh tế gia đình, môi trường sử dụng tiếng Việt không đồng đều, việc duy trì và nâng cấp các chính sách hỗ trợ sớm không nên bị xem là “chi thêm”, mà là trách nhiệm tối thiểu để bảo đảm không em nhỏ nào bị bỏ lại ngay từ bậc học đầu tiên.







