Đào tạo phải bắt đầu từ nhu cầu thật
Hợp tác đại học địa phương là cách chính quyền và trường đại học cùng xác định những kỹ năng, ngành nghề mà nền kinh tế sở tại cần, rồi kết nối đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng với các nhu cầu ấy. Giá trị của mô hình không nằm ở số văn bản được ký, mà ở việc người học có năng lực phù hợp và địa phương có thể tuyển dụng, sử dụng họ.
Hai động thái tại An Giang và Ninh Bình cho thấy địa phương đang tìm cách chuyển mối liên kết này thành công việc cụ thể. Điểm đáng chú ý là chính quyền không chỉ đề nghị trường mở ngành, mà còn tham gia xác định nhu cầu nhân lực và những vấn đề cần giải quyết. Cách làm đó có triển vọng hơn việc đào tạo theo dự đoán chung, nhưng chỉ phát huy tác dụng nếu thông tin về vị trí việc làm được cập nhật và các chương trình được điều chỉnh theo kết quả thực tế.
An Giang: rà soát vị trí việc làm trước khi định hướng đào tạo
Ngày 21-10, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Minh Thúy chủ trì buổi làm việc với đoàn Đại học An Giang thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên trao đổi về những vướng mắc, đồng thời bàn việc phối hợp đào tạo nhân lực, hỗ trợ giáo dục, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và nghiên cứu khoa học. Cách tiếp cận này đáng chú ý vì không tách nhu cầu đào tạo khỏi điều kiện để trường thực hiện nhiệm vụ.
Tỉnh giao Sở Nội vụ chủ trì cùng các cơ quan rà soát nhu cầu nhân lực theo vị trí việc làm, tập trung vào quản lý dữ liệu số, nông nghiệp thông minh, thủy sản và du lịch. Kết quả rà soát sẽ làm căn cứ để Đại học An Giang định hướng chương trình đào tạo sát nhu cầu địa phương. Đây là mắt xích thiết yếu: nếu xác định đúng việc cần người trước, đào tạo nhân lực địa phương mới có cơ hội gắn với đầu ra thay vì chỉ tăng quy mô tuyển sinh.
Các bước tiếp theo gồm tạo điều kiện cho sinh viên thực tập tại cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp và hợp tác xã; đồng thời, Sở Khoa học và Công nghệ sẽ làm việc với trường để cụ thể hóa hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Ninh Bình: thỏa thuận dài hạn cần đi cùng sản phẩm cụ thể
Khác với buổi làm việc tập trung tháo gỡ vướng mắc ở An Giang, Đại học Công nghiệp Hà Nội và UBND tỉnh Ninh Bình ký thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026–2030, tiếp nối cuộc trao đổi ngày 13-7-2026. Hai bên hướng tới phối hợp trong phát triển nhân lực, chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Khoảng thời gian nhiều năm tạo cơ sở để triển khai chương trình liên tục, nhưng bản thân thời hạn không bảo đảm chất lượng nếu thiếu mục tiêu và đánh giá rõ ràng.
Lãnh đạo tỉnh đề nghị hợp tác phải có nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể và được đánh giá thường xuyên; đồng thời gợi ý mở rộng đào tạo tại cơ sở thứ ba của trường ở Ninh Bình, nhất là các lĩnh vực công nghiệp và du lịch. Đại học Công nghiệp Hà Nội cũng bày tỏ sẵn sàng tiếp nhận vấn đề thực tiễn từ chính quyền, doanh nghiệp và người dân, đưa nghiên cứu gần hơn với ứng dụng.
So với An Giang, mô hình Ninh Bình nhấn mạnh khuôn khổ thực hiện dài hạn và liên kết nghiên cứu với doanh nghiệp. Cả hai đều cho thấy phát triển nhân lực chất lượng cao không thể chỉ là mục tiêu trên giấy: cần nối nội dung đào tạo với vấn đề phát triển cụ thể, rồi kiểm tra xem các chương trình có tạo kết quả dùng được hay không.

Thước đo cuối cùng là người học và địa phương
Hai thỏa thuận khác nhau về cách triển khai nhưng cùng đặt chính quyền vào vai trò xác định nhu cầu, còn trường đại học đảm nhiệm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao tri thức. An Giang bắt đầu bằng rà soát vị trí việc làm rồi định hướng chương trình; Ninh Bình xây dựng khung phối hợp 2026–2030, đồng thời yêu cầu nhiệm vụ và sản phẩm có thể đánh giá. Đây là hai bước bổ trợ: biết địa phương cần gì và có cơ chế đưa nhu cầu ấy thành hoạt động.
Muốn hợp tác đại học địa phương vượt khỏi nghi thức ký kết, các bên cần duy trì trao đổi với cơ quan tuyển dụng, doanh nghiệp và đơn vị thực tập; sau đó dùng phản hồi để điều chỉnh nội dung học và nghiên cứu. Nếu không, mục tiêu đào tạo dễ lệch khỏi nhu cầu tuyển dụng, còn kết quả nghiên cứu khó đi vào thực tiễn.
Kết luận, phối hợp giữa chính quyền và đại học là nền tảng đúng để đào tạo nhân lực địa phương, nhưng hiệu quả phải được chứng minh bằng chương trình sát nhu cầu, cơ hội áp dụng kiến thức và kết quả theo dõi thường xuyên. Giá trị của hai mô hình sẽ được quyết định ở khâu thực hiện, không phải ở lời cam kết.






