Tuyến liên vùng quy mô lớn, đang hoàn thiện hồ sơ
Đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu là dự án đường sắt liên vùng được quy hoạch để kết nối các trung tâm công nghiệp Đồng Nai với cụm cảng biển và đô thị Vũng Tàu, đồng thời phục vụ cả hành khách lẫn hàng hóa trên một hành lang vận tải mới. Đây là dự án có quy mô đáng kể, nhưng hiện vẫn ở giai đoạn chuẩn bị chứ chưa phải công trình sắp bước ngay vào thi công. Ban Quản lý dự án Đường sắt thuộc Bộ Xây dựng vừa báo cáo tiến độ lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, dựa trên hồ sơ do Công ty Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải phía Nam hoàn thiện. Các nghiên cứu được cập nhật theo quy hoạch mạng lưới đường sắt điều chỉnh và địa giới hành chính mới. Việc cập nhật này là bước cần thiết để hồ sơ bám sát quy hoạch hiện hành; song dự án chỉ có thể tiến tới giai đoạn tiếp theo sau khi các phương án được xem xét và thống nhất.

Tốc độ 160 km/h đi cùng mạng lưới nhánh kết nối
Tốc độ đường sắt tối đa 160 km/h trên tuyến chính là thông số nổi bật, nhưng giá trị của dự án không nằm ở con số này riêng lẻ. Tuyến được thiết kế đường đôi, khổ ray 1.435 mm và điện khí hóa; nhánh ra cảng có tốc độ thiết kế 80 km/h, phù hợp với vai trò kết nối vận tải hàng hóa. Toàn tuyến dự kiến dài khoảng 132 km, gồm tuyến chính An Bình – Vũng Tàu dài 103,4 km, nút giao Phước Tân dài 4,21 km, nhánh Trảng Bom – Phước Tân dài 8,4 km và nhánh ra cảng, trung tâm logistics dài 20,41 km. Quy hoạch còn bố trí 14 ga và ba depot tại An Bình, Trảng Bom, Thị Vải. Cấu trúc này cho thấy tuyến được định hình như hành lang vận tải tích hợp, thay vì chỉ là đường tàu chở khách giữa hai đầu mối.
Vốn lớn, lợi ích phụ thuộc vào khả năng kết nối
Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 198.201 tỷ đồng, với nhu cầu sử dụng đất khoảng 588,2 ha. Đây là quy mô đòi hỏi chuẩn bị kỹ lưỡng: hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào tốc độ chạy tàu mà còn vào việc tuyến có kết nối thuận tiện với khu công nghiệp, cảng biển và trung tâm logistics hay không. Dự án được kỳ vọng mở thêm lựa chọn đi lại, tăng năng lực vận chuyển hàng hóa và giảm áp lực lên các trục đường bộ trọng điểm. Theo dự báo, đến năm 2045, tuyến có thể vận chuyển từ 23 triệu đến hơn 30 triệu lượt hành khách mỗi năm, cùng 16,5 triệu đến gần 22 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Đây là mục tiêu đáng chú ý, nhưng các con số dự báo chỉ trở thành lợi ích thực tế nếu hạ tầng đầu cuối và tổ chức khai thác được triển khai đồng bộ.
Khởi công trước năm 2030 là mục tiêu, không phải cam kết hoàn tất
Phương án đầu tư chia dự án thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, dự kiến đầu tư 120.781 tỷ đồng, gồm giải phóng mặt bằng và xây dựng tuyến từ An Bình/Trảng Bom đến Thị Vải cùng các nhánh kết nối cụm cảng Thị Vải – Cái Mép; mục tiêu là khởi công trước năm 2030 và đưa vào vận hành từ năm 2035. Giai đoạn hai, với mức đầu tư khoảng 77.420 tỷ đồng, triển khai đoạn Thị Vải – Vũng Tàu và phấn đấu khai thác trước năm 2045. Một nút cần tháo gỡ là phương án hướng tuyến vào Vũng Tàu: cơ quan quản lý đang chờ TP.HCM thống nhất hướng theo trục quốc lộ 51 và 51B, cùng đề xuất đặt ga cuối tại khu công viên văn hóa đô thị mới Bàu Trũng. PMU Đường sắt cũng kiến nghị tổ chức hội nghị báo cáo cuối kỳ làm cơ sở cho các bước tiếp theo. Vì vậy, mốc khởi công trước năm 2030 nên được hiểu là mục tiêu chuẩn bị, còn tiến độ thực tế phụ thuộc vào việc hoàn thiện và thông qua hồ sơ.






