Bài học cốt lõi từ vụ Tuyên Quang: Niềm tin quan trọng hơn mọi kỳ thi
Kỳ thi tốt nghiệp THPT là kỳ đánh giá chuẩn hóa toàn quốc, vừa xét công nhận tốt nghiệp, vừa cung cấp dữ liệu làm căn cứ tuyển sinh đại học, cao đẳng, nên mức độ minh bạch kỳ thi và công bằng giáo dục trong kỳ thi này quyết định trực tiếp niềm tin xã hội đối với hệ thống giáo dục và cơ hội của hàng trăm nghìn học sinh mỗi năm.
Vụ gian lận thi cử tại điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang, nơi cơ quan điều tra xác định có sự móc nối giữa một số phụ huynh và giáo viên coi thi để can thiệp kết quả, buộc Bộ Giáo dục và Đào tạo phải hủy toàn bộ kết quả lần đầu và tổ chức thi lại cho 328 thí sinh. Đây không chỉ là một sự cố cá biệt; nó phơi bày lỗ hổng trong quản trị điểm thi, khi “chỉ cần một khâu trong quy trình không được thực hiện đúng thì tính khách quan của cả kỳ thi có thể bị ảnh hưởng”. Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu và dồn nguồn lực cho đổi mới, một vụ việc “cực kỳ nghiêm trọng” như vậy buộc chúng ta phải đặt câu hỏi: giữ mô hình kỳ thi, nhưng sẽ thay đổi cách quản trị như thế nào.

Thi lại để khắc phục hậu quả, không phải để xóa trách nhiệm
Quyết định thi lại tất cả các môn cho 328 thí sinh tại điểm thi THPT Chuyên Tuyên Quang là bước đi khó, nhưng cần thiết. Thứ trưởng Thường trực Bộ GD-ĐT khẳng định đây là phương án được “cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở pháp luật, kết quả điều tra ban đầu nhằm khắc phục hậu quả của một điểm thi không còn bảo đảm tính khách quan, trung thực”. Dự kiến kỳ thi lại diễn ra trong hai ngày 14 và 15/8, kết quả công bố ngày 19/8, kèm theo việc công khai phổ điểm của điểm thi này.
Điều quan trọng là thông điệp chính sách: thi lại để xác định lại kết quả không đồng nghĩa với việc xóa bỏ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức gian lận. Quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” được địa phương quán triệt và vụ án được đưa vào diện theo dõi của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của tỉnh. Bộ GD-ĐT cũng thừa nhận việc phải dự thi lại ảnh hưởng rõ rệt đến tâm lý 328 thí sinh, nên phương án xử lý phải vừa răn đe, vừa nhân văn: không để học sinh có năng lực thực sự mất cơ hội học tập, nhưng vẫn xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm.

Không thêm luật cho đẹp, phải siết quản trị điểm thi và kiểm soát rủi ro
Một trong những nhận định thẳng thắn nhất sau vụ việc là: vấn đề không nằm ở chỗ thiếu quy định, mà nằm ở chỗ chấp hành quy chế và hiệu quả giám sát trong quá trình tổ chức kỳ thi. Quy chế hiện đã phân định khá rõ trách nhiệm của hội đồng thi, trưởng điểm thi, cán bộ coi thi, thanh tra, giám sát, nhưng nếu một mắt xích buông lỏng, tính khách quan của cả kỳ thi bị kéo sập theo.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT có quy mô khoảng 2.500 điểm thi với hơn 54.000 phòng thi; bất kỳ giải pháp nào nếu chỉ thêm giấy tờ, thêm thủ tục nhưng không tăng sức nặng kiểm soát rủi ro thì sẽ biến thành hình thức. Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng nêu rõ trọng tâm sắp tới không phải là “đẻ thêm” quy định mà là nâng cao chất lượng quản trị, kiểm soát rủi ro và hoàn thiện các giải pháp ứng phó với những phương thức gian lận mới. Nói cách khác, quản trị điểm thi phải chuyển từ tư duy “giữ lễ” sang tư duy quản lý rủi ro: ai có thể gian lận, gian lận bằng cách nào, kiểm soát ra sao và truy vết bằng dữ liệu thế nào.
Công nghệ, giám sát độc lập và công khai quy trình: Ba trụ cột minh bạch
Không thể bàn đến minh bạch kỳ thi nếu không đề cập công nghệ và giám sát độc lập. Các phương thức gian lận bằng công nghệ cao đang phát triển nhanh, khiến những biện pháp truyền thống như nhắc nhở, niêm phong… trở nên lạc hậu. Trong kỳ thi vừa qua, Bộ GD-ĐT phối hợp Bộ Công an khuyến khích địa phương sử dụng máy quét an ninh cầm tay để phát hiện thiết bị điện tử; đó mới là bước khởi đầu.
Ở tầm dài hạn, kỳ thi tốt nghiệp THPT trên máy tính dự kiến được thí điểm từ năm 2027 và triển khai rộng từ 2030. Nếu không đi kèm cơ chế giám sát độc lập và quản trị dữ liệu nghiêm ngặt, chuyển đổi số sẽ chỉ nhân bản rủi ro ở quy mô lớn hơn. Đề xuất dùng hệ thống camera, dữ liệu giám sát tại phòng thi, điểm thi để phục vụ đối chiếu khi có dấu hiệu bất thường là một hướng, nhưng không thể là “cây gậy thần”. Mọi giải pháp phải cân nhắc an toàn dữ liệu, chi phí vận hành và tránh tạo ra rủi ro mới. Cốt lõi vẫn là: giám sát phải có khoảng cách độc lập với người bị giám sát và quy trình phải đủ công khai để xã hội có thể kiểm chứng.
Giữ mô hình kỳ thi, nhưng phải tái thiết niềm tin công bằng giáo dục
Nhiều ý kiến đề xuất tách kỳ thi tốt nghiệp THPT khỏi tuyển sinh đại học, sau cú sốc Tuyên Quang. Tuy nhiên, cần nhìn vào thực tế: mô hình hiện nay được xã hội ghi nhận vì giảm áp lực, giảm chi phí cho học sinh, phụ huynh và xã hội, đồng thời vẫn bảo đảm độ tin cậy để xét công nhận tốt nghiệp, đánh giá chất lượng giáo dục và làm căn cứ tuyển sinh. Hiện 100% cơ sở giáo dục đại học sử dụng kết quả kỳ thi này để xét tuyển, với tỷ lệ từ 40% đến 70% chỉ tiêu – một minh chứng về mức độ tin cậy đã được gây dựng suốt nhiều năm.
Vì thế, một sai phạm tại một điểm thi, dù “đặc biệt nghiêm trọng”, không đủ lý do để phủ nhận toàn bộ mô hình. Thay vào đó, nhiệm vụ của Chính phủ và ngành giáo dục là chứng minh bằng hành động rằng gian lận thi cử sẽ bị phát hiện và xử lý nghiêm; thi lại chỉ là biện pháp khắc phục hậu quả, không phải tấm vé ân xá. Muốn thế, phải đồng thời làm ba việc: siết trách nhiệm và kỷ luật với mọi cá nhân liên quan, thiết kế hệ thống giám sát độc lập nhiều tầng, và công khai tối đa quy trình thi cử, từ coi thi đến chấm thi, công bố điểm. Công bằng giáo dục không đến từ những khẩu hiệu đẹp; nó đến từ những kỳ thi mà mỗi thí sinh đều tin rằng điểm số là do chính mình làm ra.






