Hành lang logistics Viễn Đông – Việt Nam – ASEAN là gì và vì sao đáng chú ý?
Hành lang logistics Viễn Đông – Việt Nam – ASEAN là sáng kiến kết nối vận tải biển, hệ thống cảng, kho lạnh, trung tâm phân phối và chuỗi sản xuất giữa vùng Viễn Đông Nga, Việt Nam và các nước ASEAN, nhằm hình thành những chuỗi giá trị mới cho hàng hóa nông nghiệp, thủy sản, thực phẩm, nguyên liệu và hàng tiêu dùng, qua đó tăng tốc thương mại Nga – ASEAN và nâng vai trò trung tâm của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực.
Điểm đáng nói là đây không chỉ là một ý tưởng về hạ tầng, mà là tuyên bố chiến lược về vị thế. Khi Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn lần đầu nêu đề xuất này tại phiên Đối thoại kinh doanh Nga - ASEAN trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế phương Đông lần thứ XI ở Vladivostok, vùng Viễn Đông, ngày 2/9, Việt Nam gửi đi một thông điệp rõ ràng: Hà Nội muốn trở thành “trục giữa” của thương mại Nga - ASEAN, chứ không chỉ là một điểm trung chuyển đơn lẻ.
Trong bối cảnh thương mại Nga - ASEAN đã tăng gần 58% trong thập kỷ qua và đạt khoảng 21 tỷ USD, nhưng vẫn bị đánh giá là chưa tương xứng tiềm năng, sáng kiến hành lang logistics Viễn Đông là một lời nhắc thẳng thắn: nếu không tái cấu trúc chuỗi vận chuyển và phân phối, con số này sẽ khó bứt phá.

Vì sao thời điểm này là “cửa sổ vàng” cho thương mại Nga - ASEAN?
Đề xuất hành lang logistics Viễn Đông xuất hiện đúng lúc quan hệ Nga - ASEAN bước vào giai đoạn được xem là “có ý nghĩa lịch sử”. Năm 2026 sẽ đánh dấu 35 năm thiết lập quan hệ Nga - ASEAN, đồng thời hai bên đã thông qua Kế hoạch hành động toàn diện giai đoạn 2026 - 2030, tạo nền chính trị – kinh tế đủ dày để biến những cam kết thành dự án hữu hình.
Vấn đề, như chính Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, là yếu tố cốt lõi nhất trong giai đoạn tới phải là biến Kế hoạch hành động Nga - ASEAN 2026 - 2030 thành những dự án cụ thể, có địa chỉ, có đối tác và đo lường được kết quả. Nếu không có các “đường ống logistics” vật chất và số, mọi mục tiêu tăng cường hợp tác vẫn chỉ nằm trên giấy.
Hành lang logistics Viễn Đông – Việt Nam – ASEAN chính là mẫu dự án như vậy: cụ thể, định lượng được, có cấu phần hạ tầng, công nghệ, doanh nghiệp, và gắn chặt với mục tiêu mở rộng thương mại Nga - ASEAN. Nó cho phép hai bên chuyển trọng tâm từ thương mại thuần túy sang cùng đầu tư, sản xuất, tham gia chuỗi giá trị mới, thay vì tiếp tục chấp nhận vai trò ở “rìa” chuỗi cung ứng khu vực.

Năm hướng chiến lược: từ chuỗi cung ứng mới đến công nghệ số
Trên nền tảng đó, Việt Nam không chỉ nêu một sáng kiến đơn lẻ, mà đưa ra tới 5 định hướng hợp tác trọng tâm để làm dày thêm hợp tác kinh tế ASEAN – Nga. Nhìn kỹ 5 hướng này cho thấy tư duy “chuỗi cung ứng trung tâm” khá nhất quán, trong đó hành lang logistics Viễn Đông chỉ là mảnh ghép hạt nhân về hạ tầng.
Thứ nhất, phát triển các chuỗi cung ứng mới và tăng cường kết nối thương mại – đầu tư, dựa trên thế mạnh năng lượng, nguyên liệu, nông nghiệp, công nghiệp, khoa học – công nghệ của Nga và quy mô thị trường gần 700 triệu dân, lực lượng lao động trẻ, mạng lưới sản xuất năng động của ASEAN. Thứ hai, tạo bước đột phá về giao thông và kết nối logistics, mà đề xuất hành lang logistics Viễn Đông – Việt Nam – ASEAN là biểu hiện rõ nhất.
Thứ ba, coi khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo là động lực hợp tác mới, hàm ý rằng hành lang logistics tương lai phải là hành lang số hóa, không chỉ là đường tàu và kho bãi. Hai hướng còn lại (về tài chính, thể chế và các lĩnh vực hỗ trợ khác) tuy không được mô tả chi tiết trong thông tin công khai, nhưng có thể hiểu là nhằm bảo đảm hệ sinh thái chính sách đủ hấp dẫn để các doanh nghiệp dám đổ vốn vào những chuỗi cung ứng mới hình thành từ hành lang này.
Việt Nam muốn đứng ở đâu trong chuỗi cung ứng khu vực?
Điểm mấu chốt của đề xuất không nằm ở bản thân hành lang, mà ở vai trò mà Việt Nam tự chọn cho mình trong hợp tác kinh tế ASEAN. Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đặt mục tiêu đến 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến 2045 là nước phát triển, thu nhập cao.
Với quy mô kinh tế khoảng 514 tỷ USD và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa vượt 930 tỷ USD năm 2025, Việt Nam đã tham gia sâu rộng vào mạng lưới sản xuất, chuỗi cung ứng khu vực và là điểm đến của nhiều tập đoàn đa quốc gia trong công nghệ, điện tử, chế biến chế tạo, năng lượng, logistics và dịch vụ. Ở chiều Nga - ASEAN, Việt Nam chiếm gần 1/4 thương mại song phương và là nước ASEAN đầu tiên ký FTA với Liên minh Kinh tế Á – Âu.
Nói cách khác, Việt Nam đang lập luận rằng mình đã có “đủ độ dày” về hội nhập và hạ tầng để trở thành cầu nối để doanh nghiệp Nga tiếp cận thị trường ASEAN và quốc tế, trong khi Viễn Đông Nga là cửa ngõ để doanh nghiệp Việt Nam và ASEAN đi sâu vào thị trường Nga và không gian kinh tế Á – Âu. Nếu không tận dụng được vị thế này thông qua các hành lang logistics, Việt Nam sẽ bỏ lỡ một vị trí trung tâm hiếm hoi trong bản đồ thương mại Nga – ASEAN.
Kết luận: Hành lang logistics là phép thử cho tầm nhìn Nga - ASEAN đến 2030
Từ nay đến 2030, mối quan hệ Nga - ASEAN sẽ được đánh giá không phải bằng số hội nghị hay tuyên bố chung, mà bằng số chuỗi cung ứng, hành lang logistics và dự án đầu tư cụ thể được hình thành rõ nét như kỳ vọng mà Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đã nêu. Hành lang logistics Viễn Đông – Việt Nam – ASEAN vì thế là phép thử cho mức độ nghiêm túc của hai bên với chính Kế hoạch hành động 2026 - 2030.
Nếu sáng kiến này tiến triển, Nga có cơ hội “mở cửa” Viễn Đông như một hub mới cho thương mại với ASEAN, còn ASEAN – với Việt Nam ở trung tâm – có thêm một trục logistics độc lập, đa dạng hóa chuỗi cung ứng khu vực và giảm phụ thuộc vào các tuyến truyền thống. Nếu nó dậm chân tại chỗ, điều đó sẽ cho thấy khoảng cách lớn giữa tham vọng hợp tác kinh tế ASEAN và năng lực thực thi hiện tại.
Ở góc nhìn Việt Nam, việc mạnh dạn đề xuất hành lang logistics ngay tại Vladivostok là bước đi đúng hướng: hoặc Hà Nội khẳng định vai trò cầu nối trong thương mại Nga - ASEAN bằng các dự án hạ tầng và công nghệ cụ thể, hoặc chấp nhận bị thay thế bởi những điểm trung chuyển khác trong khu vực đang chuyển động rất nhanh.






