Bảo tồn giống phải đi cùng con đường ra thị trường
Gạo đặc sản là sản phẩm từ giống lúa mang đặc tính riêng của một vùng, được gìn giữ qua tập quán canh tác và cần có chất lượng nhất quán để phân biệt với gạo thông thường. Bảo tồn vì thế không thể dừng ở việc lưu hạt giống: nếu không có vùng trồng, quy trình và đầu ra, nguồn gene quý khó chuyển thành sinh kế bền vững.
Tại Lũng Cú, Tuyên Quang, Khẩu mang gắn với đời sống lâu đời của người dân và còn là nguyên liệu làm bánh truyền thống. Năm 2026, địa phương triển khai sản xuất Khẩu mang, nếp nương Hải và các giống bản địa khác; Khẩu mang được trồng tập trung tại Ma Lé và Tắc Tằng trên khoảng 12 ha. Xã hỗ trợ 33,8 triệu đồng cho mô hình duy trì giống. Những con số này cho thấy bảo tồn có thể bắt đầu từ quy mô vừa sức, nhưng phải nối tiếp bằng tổ chức sản xuất và tiêu thụ.
Các giống lúa đặc sản vùng cao chủ yếu do người dân tự chọn lọc, để giống qua nhiều vụ; đó là vốn di truyền nông nghiệp cần bảo tồn và khai thác có trách nhiệm. Địa phương ước tính lợi nhuận của các giống bản địa đạt 75–85 triệu đồng/ha sau khi trừ chi phí đầu tư. Tuy nhiên, thu nhập chỉ bền khi chất lượng được giữ ổn định và có người mua. Hướng đi đúng là kết hợp bảo tồn nguồn gene với tổ chức vùng trồng, nâng chất lượng và kết nối tiêu thụ, thay vì chỉ quảng bá câu chuyện bản địa.
Tiêu chí cụ thể mới bảo vệ được gạo thơm
VCCI vừa góp ý dự thảo thông tư về quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Gạo Việt Nam/VIETNAM RICE”, đề nghị bổ sung tiêu chí riêng cho gạo thơm. Lý do thuyết phục: các điều kiện hiện được mô tả chủ yếu nhắc lại yêu cầu pháp lý chung, còn tiêu chí chất lượng dựa nhiều vào chuẩn gạo thương phẩm phổ thông. Một nhãn hiệu chứng nhận như vậy khó tạo khác biệt đủ rõ để bảo vệ phân khúc gạo đặc sản hay giúp người mua nhận biết giá trị vượt trội.
Với nhóm gạo thơm trắng, VCCI đề xuất quy định rõ giống được phép sử dụng, ngưỡng độ thuần giống tối thiểu và các chỉ tiêu lý hóa như chiều dài hạt, tỷ lệ dài trên rộng, hàm lượng amylose, độ phân hủy kiềm hoặc nhiệt độ hóa hồ; mỗi chỉ tiêu cần có phương pháp thử tương ứng, bên cạnh TCVN 11889:2017. Đây là cách biến lời hứa về gạo thơm Việt Nam thành yêu cầu có thể kiểm tra. Ngưỡng độ thuần cũng không nên sao chép máy móc mức 92% của Thái Lan; cần khảo sát ST24, ST25 và các giống chủ lực để cân bằng giữa bảo vệ chất lượng với khả năng thực hiện của nông dân, nhà máy.
Bước tiếp theo cần là phân tầng sản phẩm, ghi rõ nhóm gạo trên bao bì và bảo đảm tên giống chỉ xuất hiện khi đáp ứng ngưỡng thuần tương ứng. Về lâu dài, một tầng chứng nhận riêng cho gạo đặc sản mang tên giống sẽ hữu ích hơn một nhãn chung nhưng tiêu chí mờ. Nếu quy chuẩn không nhận diện được giống và đặc trưng hạt gạo, nhãn hiệu quốc gia có nguy cơ chỉ xác nhận nguồn gốc mà không bảo vệ bản sắc.

Rạch Lọp cho thấy thương hiệu cần một chuỗi sản xuất
Gạo Rạch Lọp Tiểu Cần gợi ra phần còn thiếu giữa tiêu chuẩn và thị trường: người sản xuất phải cùng nhau làm ra sản phẩm đồng nhất, rồi đưa sản phẩm đến người mua bằng một thương hiệu đáng tin. Sản phẩm được công nhận OCOP 5 sao, được chọn vào danh sách 50 sản phẩm tiêu biểu của hợp tác xã và trao giải Mai An Tiêm năm 2026. Thành quả này đáng chú ý không chỉ vì danh hiệu, mà vì nó gắn với nền tảng liên kết sản xuất của Hợp tác xã Nông nghiệp Rạch Lọp.
Một hộ riêng lẻ thường khó tập hợp đủ sản lượng, kiểm soát chất lượng đồng đều và tiếp cận các kênh phân phối lớn. Hợp tác xã có thể tổ chức thành viên, kết nối doanh nghiệp và nhà phân phối, đồng thời đưa yêu cầu thị trường trở lại đồng ruộng. Với Rạch Lọp, hạt gạo trở thành tài sản chung của chuỗi giá trị: người trồng có thêm cơ hội nâng giá trị sản phẩm, còn người tiêu dùng có cơ sở để tin vào tên gọi địa phương. Thương hiệu vì thế không thể chỉ nằm trên bao bì; nó phải được bảo chứng bằng cách sản xuất có tổ chức.
Chặng tiếp theo cần củng cố liên kết giữa hợp tác xã và thành viên, giữ chất lượng, hoàn thiện bao bì và nhận diện, đồng thời mở rộng thị trường. Đây cũng là bài học cho các vùng đang gìn giữ giống lúa đặc sản: giống quý tạo nên khác biệt, tiêu chí giúp xác thực khác biệt, còn hợp tác sản xuất biến nó thành hàng hóa có đầu ra. Thiếu bất kỳ mắt xích nào, câu chuyện nguồn gene khó đem lại lợi ích lâu dài cho nông dân.

Bản sắc chỉ sống khi chất lượng được giữ qua từng vụ
Từ Khẩu mang ở Lũng Cú đến gạo Rạch Lọp Tiểu Cần, thông điệp chung rất rõ: bảo tồn và xây dựng thương hiệu không phải hai việc tách rời. Cần gìn giữ giống tại cộng đồng, tổ chức vùng trồng, kiểm soát độ thuần và đặc tính chất lượng, rồi liên kết nông dân với hợp tác xã và thị trường. Khi làm được điều đó, một giống lúa bản địa vừa giữ được dấu ấn văn hóa, vừa có cơ hội cải thiện sinh kế.
Các bước sắp tới không nên dừng ở danh hiệu hay nhãn chứng nhận. Vùng trồng cần tiếp tục nâng chất lượng, kiểm soát chi phí và tìm đầu ra ổn định; các tiêu chuẩn gạo thơm cần dựa trên khảo sát giống thực tế; hợp tác xã phải duy trì cam kết chất lượng với thành viên và khách hàng. Đây là con đường thiết thực để gạo đặc sản tạo được niềm tin, thay vì dựa vào tên gọi địa phương mà không có bằng chứng chất lượng.
Kết luận, bảo tồn nguồn gene là điểm khởi đầu, không phải đích đến. Một thương hiệu gạo bền vững cần vừa giữ được giống và hương vị riêng, vừa chứng minh được phẩm chất bằng tiêu chí minh bạch, vừa bảo đảm người trồng hưởng lợi từ liên kết sản xuất. Đó mới là cách để gạo thơm Việt Nam giữ bản sắc và đứng vững trên thị trường.






