Chiến lược mở rộng không gian công nghiệp: từ 85 dự án đến cấu trúc mới
Chiến lược mở rộng không gian công nghiệp của Cần Thơ là định hướng phát triển kinh tế đô thị, trong đó thành phố xây dựng danh mục dự án quy mô lớn để gắn kết hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và logistics, tạo không gian sản xuất mới và tái định vị vai trò trung tâm công nghiệp – logistics của vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Đây không phải một danh sách dự án rời rạc, mà là cách Cần Thơ chủ động thiết kế tương lai công nghiệp của mình. Theo Quyết định 2509/QĐ-UBND, 85 dự án được đưa vào danh mục mời gọi đầu tư đến năm 2030, trải rộng từ hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, năng lượng đến 37 dự án đô thị – nhà ở và các dự án thương mại, giáo dục, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao. Việc gắn các dự án đầu tư Cần Thơ trong một khung tổng thể cho thấy thành phố chấp nhận bước vào cuộc chơi cạnh tranh vùng bằng năng lực quy hoạch và hạ tầng vùng Cần Thơ, thay vì chỉ trông chờ từng dự án đơn lẻ. Điểm đáng nói là định hướng gắn chặt giữa sản xuất, đô thị và logistics. Không gian đầu tư của Cần Thơ đang được mở rộng theo hướng các khu công nghiệp Cần Thơ không còn là “ốc đảo” sản xuất, mà trở thành hạt nhân trong mạng lưới đô thị – dịch vụ – logistics, tạo nền tảng cho một cơ cấu công nghiệp có năng suất cao hơn.
Khu công nghiệp Trần Đề: bài kiểm tra đầu tiên cho mô hình công nghiệp gắn logistics
Nếu muốn trở thành trung tâm logistics Đồng bằng Sông Cửu Long, Cần Thơ phải chứng minh được khả năng kết nối hạ tầng công nghiệp với đầu mối vận tải. Khu công nghiệp Trần Đề là bài kiểm tra đầu tiên ở quy mô đáng kể. Một hạ tầng công nghiệp mới vừa được đưa vào vận hành tại Cần Thơ với diện tích quy hoạch 160 ha và tổng vốn đầu tư gần 1.230 tỷ đồng, do Công ty CP Bê tông Hà Thanh khánh thành chiều 22/9 tại xã Trần Đề. Đây là bước đi cụ thể biến quỹ đất quy hoạch thành không gian sản xuất – logistics thực sự. Lợi thế của Trần Đề nằm ở vị trí tiếp giáp Quốc lộ Nam Sông Hậu và gần khu vực Cảng Trần Đề, với hạ tầng được đầu tư để phục vụ sản xuất, logistics và dịch vụ liên quan. Khi khu công nghiệp được gắn với cảng biển và mạng lưới giao thông, doanh nghiệp chế biến nông – thủy sản, thực phẩm hay xuất khẩu có thêm lựa chọn tổ chức chuỗi cung ứng, giảm chi phí lưu kho, vận chuyển và rút ngắn thời gian giao hàng. Trong bức tranh khu công nghiệp Cần Thơ, Trần Đề không chỉ bổ sung thêm 160 ha đất công nghiệp, mà còn thử nghiệm mô hình khu công nghiệp ven biển gắn chặt với logistics. Nếu vận hành hiệu quả, đây sẽ là luận cứ quan trọng chứng minh rằng hạ tầng vùng Cần Thơ có thể nâng vai trò trung tâm logistics của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thay vì chỉ dừng ở chức năng sản xuất nội vùng.

VSIP – Vĩnh Thạnh và nhà máy Bestway: tín hiệu của làn sóng sản xuất xuất khẩu
Trong chiến lược thu hút dự án đầu tư Cần Thơ, việc một nhà máy quy mô lớn hoàn thành nhanh và đi vào hoạt động đúng cam kết là tín hiệu có giá trị hơn mọi hội nghị xúc tiến. Nhà máy Công nghệ Thể thao Bestway Cần Thơ giai đoạn 1 được triển khai trên khoảng 28 ha tại Khu công nghiệp Vĩnh Thạnh giai đoạn 1, với năng lực sản xuất, gia công hơn 22 triệu sản phẩm mỗi năm gồm đồ chơi bơm hơi, nhựa, dụng cụ thể thao dưới nước và tấm nhựa PVC. Giai đoạn 1 đã hoàn thành diện tích nhà xưởng khoảng 280.000m² và chính thức đi vào hoạt động tại Khu công nghiệp VSIP Cần Thơ, sau khi nhà đầu tư thực hiện 100% tổng vốn đăng ký chỉ trong thời gian ngắn kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Đây là một câu chuyện quan trọng cho môi trường đầu tư: một dự án sản xuất xuất khẩu quy mô lớn đến từ tập đoàn nước ngoài, chọn Cần Thơ vì nguồn lao động dồi dào, hạ tầng ngày càng phát triển và môi trường ổn định. Về lâu dài, Bestway dự kiến triển khai giai đoạn 2 với diện tích khoảng 120.000m², đưa vào sản xuất vào tháng 7/2027, và sau giai đoạn 3 tổng diện tích sàn xây dựng khoảng 530.000m², tạo khoảng 6.000 việc làm. Nếu Cần Thơ tận dụng được dự án này để hình thành hệ sinh thái hỗ trợ tại VSIP – từ công nghiệp phụ trợ đến dịch vụ đô thị – thì khu vực Vĩnh Thạnh sẽ nổi lên như một cực mới trong bản đồ khu công nghiệp Cần Thơ, chứng minh rằng danh mục 85 dự án có thể chuyển hóa thành năng lực sản xuất – xuất khẩu hữu hình.
Logistics và hạ tầng vùng: mắt xích quyết định năng lực cạnh tranh
Điểm khác biệt trong chiến lược mới của Cần Thơ là đặt logistics vào cùng không gian phát triển với công nghiệp và đô thị, chứ không xem đây là dịch vụ đi sau sản xuất. Danh mục 85 dự án không chỉ có 14 dự án hạ tầng khu công nghiệp, 8 dự án hạ tầng cụm công nghiệp, mà còn xuất hiện Trung tâm logistics hàng không gắn với Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ, quy mô 100 ha tại phường Long Tuyền và Thới An Đông. Trung tâm này được kỳ vọng hỗ trợ vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, xuất nhập khẩu và trung chuyển hàng hóa cho Cần Thơ và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu được kết nối với các vùng sản xuất, cảng biển, cảng sông và mạng lưới giao thông liên vùng, Cần Thơ sẽ tạo ra một hệ thống logistics đa phương thức, nơi doanh nghiệp vừa có đầu mối công nghiệp, vừa có giải pháp vận chuyển linh hoạt theo yêu cầu thời gian giao nhận. Tuy nhiên, chính quyền thành phố sẽ bị đánh giá không bằng số lượng dự án, mà bằng khả năng chuyển hóa danh mục thành những dự án đủ điều kiện triển khai, bảo đảm tiến độ và tạo ra năng lực hạ tầng thực chất. Nếu các khu công nghiệp Cần Thơ, từ Trần Đề đến VSIP, gắn kết được với trung tâm logistics và đô thị dịch vụ, Cần Thơ sẽ bước lên một nấc mới trong chuỗi giá trị vùng, thay vì mãi ở vai trò trung chuyển thô.
Thách thức thực thi và kết luận: không gian công nghiệp chỉ có ý nghĩa khi được lấp đầy
Nhìn từ bên ngoài, chiến lược mở rộng không gian công nghiệp của Cần Thơ đang đi đúng hướng: có tư duy kết nối khu công nghiệp, đô thị và logistics; có danh mục 85 dự án đầu tư Cần Thơ đến năm 2030; có những công trình cụ thể như Khu công nghiệp Trần Đề và Nhà máy Bestway tại VSIP Cần Thơ đã khánh thành. Nhưng câu hỏi cốt lõi là tốc độ và chất lượng thực thi. Cần Thơ đang hướng tới cơ cấu kinh tế có năng suất cao hơn, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ và logistics giữ vai trò ngày càng quan trọng. Điều này chỉ đạt được khi quỹ đất công nghiệp hàng trăm ha trong danh mục – từ Trần Đề 2, các khu công nghiệp – đô thị – dịch vụ đến khu công nghiệp công nghệ cao Ô Môn – được triển khai đồng bộ, không bị chia nhỏ hoặc treo quy hoạch. Kết luận, không gian công nghiệp mở rộng tự nó không tạo ra tăng trưởng. Giá trị nằm ở cách Cần Thơ biến các dự án trên giấy thành nhà máy hoạt động, chuỗi logistics đa phương thức và hệ sinh thái đô thị – dịch vụ quanh mỗi khu công nghiệp. Nếu làm được, Cần Thơ không chỉ tăng khả năng thu hút vốn, mà còn nâng tầm vai trò trung tâm công nghiệp – logistics Đồng bằng Sông Cửu Long, tạo ra một mô hình hạ tầng vùng Cần Thơ đáng tham khảo cho các đô thị động lực khác.






