Nghị quyết 20-NQ/TW: Khi kinh tế biển không còn là chuyện khai thác tài nguyên
Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW là định hướng chuyển từ mô hình khai thác tài nguyên đơn ngành sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia, đặt mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và gắn chặt với bảo vệ hệ sinh thái cũng như chủ quyền trên biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 được thông qua tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa XIV, xác lập một bước ngoặt: tư duy phát triển kinh tế biển Việt Nam phải chuyển mạnh từ “khai thác biển” sang “quản trị biển hiện đại”, từ tiếp cận theo từng ngành sang phối hợp theo không gian tích hợp. Tư duy xuyên suốt là phát triển kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu lớn hơn: xây dựng quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, phát triển bền vững biển, có nền quản trị hiện đại.

Không gian biển rộng gấp ba đất liền: nguồn lực phong phú nhưng chưa được quản trị như một tài sản chiến lược
Nếu đất liền từng là trung tâm của tư duy phát triển, thì Nghị quyết 20 buộc chúng ta phải nhìn biển như không gian phát triển chiến lược trong dài hạn. Việt Nam là quốc gia biển với diện tích biển lớn gấp khoảng 3 lần diện tích đất liền, đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng hệ thống vịnh, cửa sông, đầm phá phong phú. Không gian này chứa đựng một danh mục tài nguyên biển đa dạng: thủy sản, đa dạng sinh học, dầu khí, băng cháy, khoáng sản rắn, năng lượng tái tạo biển, nguyên liệu sinh học, hóa chất từ nước biển, carbon xanh và các dịch vụ hệ sinh thái. Tuy nhiên, sau 8 năm triển khai chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, kết quả vẫn chưa tương xứng tiềm năng; những bất cập trong tổ chức thực hiện, sức ép từ tình hình Biển Đông, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh cho thấy chúng ta đã đối xử với tài nguyên biển như nguồn khai thác, chưa phải tài sản cần được quản trị thông minh.

Đà Nẵng, Khánh Hòa, Hà Tĩnh: ba lát cắt cho thấy kinh tế biển Việt Nam đang chuyển sang mô hình giá trị cao
Một nghị quyết chỉ có ý nghĩa khi được biến thành hành động cụ thể ở những địa phương đang sống nhờ biển. Bám sát định hướng trở thành quốc gia biển mạnh, các tỉnh, thành ven biển đã bắt đầu xác định bước đi chiến lược cho kinh tế biển Việt Nam. Đà Nẵng chuyển tư duy từ "khai thác biển" sang "quản trị không gian biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và thông minh", đặt mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế biển động lực hàng đầu. Với lợi thế nằm trên trục Bắc – Nam, Đông – Tây, cửa ngõ hành lang kinh tế Đông – Tây, thành phố đang xây dựng hệ sinh thái logistics đa phương thức, trong đó Cảng Liên Chiểu, Khu thương mại tự do và các trung tâm logistics là không gian then chốt để kết nối và mở rộng thị trường hàng hải. Khánh Hòa lại chọn nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao là hướng đột phá, sắp xếp lại vùng nuôi theo quy hoạch, quản lý theo sức chịu tải môi trường, giảm áp lực ven bờ và mở rộng ra vùng biển phù hợp. Theo Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND, tỉnh hỗ trợ người dân chuyển lồng bè sang vật liệu mới chịu sóng gió, khuyến khích áp dụng cho ăn tự động, camera, cảm biến môi trường, quản lý dữ liệu từ xa để nâng giá trị chuỗi thủy sản và giảm rủi ro sinh thái.
Năng lượng tái tạo biển: Hà Tĩnh và bài kiểm tra năng lực quản trị không gian ngoài khơi
Trong cuộc đua trở thành quốc gia biển mạnh, năng lượng tái tạo biển không chỉ là nguồn điện mới mà là phép thử về tư duy quản trị không gian ngoài khơi. Hà Tĩnh đang dồn lực khai thác tiềm năng biển để trở thành trung tâm năng lượng xanh, gắn tài nguyên gió, sóng, thủy triều với cảng biển, hạ tầng công nghiệp và các trung tâm phụ tải. Vùng biển Hà Tĩnh có vận tốc gió trung bình ở độ cao 100 m đạt 9–10 m/s, mật độ năng lượng gió trên 500 W/m², rất thuận lợi cho điện gió ngoài khơi quy mô lớn. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tỉnh được phân bổ 19 dự án điện gió với tổng công suất hơn 2.300 MW và các dự án điện mặt trời khoảng 2.100–2.500 MW. Đây không chỉ là câu chuyện công suất; nó là bài toán phối hợp giữa công nghệ, hạ tầng, vốn và năng lực quản trị để các trang trại điện gió, điện mặt trời không phá vỡ hệ sinh thái biển và vẫn tạo được động lực tăng trưởng mới. Điện gió ngoài khơi càng cho thấy phát triển bền vững biển phải đồng thời giải được yêu cầu kinh tế, môi trường, quốc phòng – an ninh.
Từ kinh tế biển đến quốc gia biển mạnh: yêu cầu về quản trị và tầm nhìn đến 2045
Khác với giai đoạn trước chỉ nhấn mạnh kinh tế biển Việt Nam, Nghị quyết 20 đặt mục tiêu dài hạn là xây dựng quốc gia biển mạnh, trong đó kinh tế chỉ là một mảnh ghép bên cạnh chủ quyền, hệ sinh thái và đời sống người dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến”. Điều đó đòi hỏi chuyển từ quản lý phân tán sang quy hoạch không gian biển quốc gia đến 2030, tầm nhìn 2050, cùng chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển, bảo vệ môi trường và hải đảo. Mục tiêu quốc gia biển mạnh sẽ thất bại nếu các địa phương không tiếp tục coi biển là trục phát triển, nếu doanh nghiệp không đầu tư vào công nghệ biển, nếu hệ thống tài chính không ưu tiên nguồn lực xanh cho các dự án năng lượng tái tạo biển, nuôi biển công nghệ cao, logistics thông minh. Biển đã được đặt vào trung tâm chiến lược; phần còn lại là năng lực thực thi.






