Khu kinh tế biển Việt Nam bước vào giai đoạn tái cấu trúc xanh
Khu kinh tế biển Việt Nam là các không gian phát triển tổng hợp ven biển, nơi công nghiệp, cảng biển logistics, đô thị và du lịch được tổ chức theo chuỗi liên kết, nhằm tạo cực tăng trưởng mới đồng thời bảo vệ tài nguyên, môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh trong dài hạn.
Điểm mấu chốt ở giai đoạn hiện nay là kinh tế biển không còn đơn thuần khai thác tự nhiên mà đang chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh, hiện đại và thông minh. Nghị quyết số 20-NQ/TW đã coi kinh tế biển là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, yêu cầu phát triển theo hướng xanh, thông minh, hoàn thiện hạ tầng, đẩy mạnh khoa học-công nghệ, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường, đời sống người dân vùng biển, đảo. Nghị quyết số 218/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện định hướng đó, mở thêm không gian chính sách và động lực mới cho các địa phương ven biển. Trong bức tranh ấy, Vân Phong, Quảng Yên và Vân Đồn nổi lên như ba tâm điểm tái cấu trúc không gian kinh tế biển theo tiêu chí phát triển bền vững ven biển.
Vân Phong: Cực tăng trưởng chiến lược gắn kinh tế với quốc phòng, môi trường
Vân Phong phát triển kinh tế đang được Khánh Hòa đặt vào vai trò hạt nhân để dẫn dắt tăng trưởng của cả tỉnh. Tỉnh ủy Khánh Hòa xác định phát triển Khu kinh tế Vân Phong theo hướng nhanh, bền vững, hiện đại, xanh, thông minh, gắn chặt phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Đây không chỉ là lựa chọn mô hình phát triển, mà là tuyên bố về loại tăng trưởng mà địa phương muốn theo đuổi: tăng trưởng mở rộng nhưng có kiểm soát, không đánh đổi tài nguyên, an ninh và chất lượng sống của cộng đồng.
Các mục tiêu cụ thể cho thấy tham vọng rõ ràng. Khánh Hòa đặt mục tiêu thu hút tối thiểu khoảng 450.000 tỷ đồng vốn đăng ký đầu tư mới giai đoạn 2026-2030, với tỷ lệ vốn thực hiện khoảng 75% tổng vốn đăng ký. Đến năm 2030, Khu kinh tế Vân Phong dự kiến đóng góp khoảng 30% GRDP, hơn 30% tổng thu ngân sách tỉnh và tạo việc làm ổn định cho khoảng 55.000 lao động. Để đạt được, tỉnh định hình 4 trụ cột: công nghiệp, năng lượng, du lịch-dịch vụ và đô thị-xây dựng, trong đó Nam Vân Phong được phát triển thành trung tâm công nghiệp gắn với cảng biển, tập trung vào công nghiệp công nghệ cao, chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, logistics và đóng tàu, còn Bắc Vân Phong hướng tới đô thị du lịch biển chất lượng cao, trung tâm dịch vụ biển, logistics, tài chính, thương mại.
Cách phân vai Bắc – Nam Vân Phong cho thấy tư duy không gian rõ ràng: vừa tạo công suất công nghiệp và cảng biển logistics, vừa xây dựng hệ sinh thái dịch vụ biển và du lịch để tăng giá trị gia tăng. Quan trọng hơn, Khánh Hòa không bỏ qua yếu tố chuyển đổi xanh khi phấn đấu hình thành ít nhất một khu công nghiệp sinh thái trước năm 2030, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong các khu công nghiệp. Song song, tỉnh tập trung nguồn lực triển khai các tuyến giao thông trọng điểm từ 2026 đến 2028, đảm bảo kết nối liên vùng và đồng bộ với nhu cầu phát triển Vân Phong. Nếu thực hiện nhất quán, Vân Phong có thể trở thành mẫu hình khu kinh tế biển Việt Nam hội tụ đủ ba yếu tố: công nghiệp hiện đại, hạ tầng thông minh và bảo vệ môi trường.
Quảng Ninh: Từ lợi thế cảng biển logistics đến tăng trưởng xanh toàn diện
Quảng Ninh tăng trưởng xanh không phải khẩu hiệu mà đang được đẩy bằng một chiến lược mở rộng không gian kinh tế biển gắn với công nghệ và bảo vệ môi trường. Tỉnh sở hữu đường bờ biển dài, hệ thống đảo, vũng vịnh kín gió, vùng nước sâu cùng mạng lưới cảng biển, tạo điều kiện lý tưởng để phát triển cảng biển logistics và các ngành kinh tế biển liên kết. Trong quy hoạch tổng thể quốc gia, Quảng Ninh cùng Hải Phòng được định vị là trung tâm kinh tế biển hiện đại, tầm quốc tế, hàng đầu Đông Nam Á. Đây là cơ sở mạnh để tỉnh tái thiết không gian kinh tế ven biển theo chuỗi giá trị.
Trong cách tiếp cận mới, giá trị của cảng biển không dừng ở bốc xếp, vận chuyển mà mở rộng sang logistics, dịch vụ hàng hải, kho bãi, phân phối và kết nối với các trung tâm sản xuất. Kinh tế biển Quảng Ninh được định hướng phát triển theo chuỗi liên kết giữa cảng biển, logistics, công nghiệp, đô thị, du lịch, dịch vụ và thủy sản công nghệ cao, đồng thời gắn với bảo tồn giá trị tự nhiên, văn hóa và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đây là hướng đi đúng, bởi nếu chỉ tăng công suất cảng mà không tạo chuỗi giá trị xung quanh, tỉnh sẽ mãi là điểm trung chuyển thay vì trở thành trung tâm sản xuất – dịch vụ biển hiện đại.
Tuy nhiên, việc mở rộng không gian kinh tế biển luôn tiềm ẩn rủi ro môi trường. Vì vậy, cùng với khai thác hiệu quả cảng biển logistics, công nghiệp, du lịch và thủy sản, Quảng Ninh được yêu cầu chú trọng bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và phát triển các mô hình kinh tế biển phát thải thấp. Định hướng này phù hợp với yêu cầu ưu tiên các mô hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ biển thông minh, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và năng lượng. Nếu Quảng Ninh giữ được kỷ luật môi trường trong quá trình công nghiệp hóa ven biển, tỉnh sẽ tránh được vết xe đổ "tăng trưởng nóng, ô nhiễm lạnh" mà nhiều vùng cảng công nghiệp trên thế giới đang phải trả giá.
Quảng Yên và Vân Đồn: Hai động lực mới trong không gian kinh tế biển Quảng Ninh
Trong chiến lược mở rộng không gian kinh tế biển, Quảng Yên và Vân Đồn đang được kỳ vọng trở thành hai trung tâm động lực mới, đóng góp mạnh mẽ cho tăng trưởng xanh, bền vững của Quảng Ninh. Quảng Yên được thiết kế như "đại lộ" tăng trưởng công nghiệp – logistics, còn Vân Đồn hướng đến mô hình khu kinh tế biển hiện đại gắn với du lịch, dịch vụ và công nghệ cao. Cả hai cùng nằm trong mạng lưới liên kết với KKT Đình Vũ – Cát Hải và các cực tăng trưởng vùng Đồng bằng sông Hồng, tạo nên cấu trúc khu kinh tế biển Việt Nam mang tính vùng chứ không còn bó hẹp trong phạm vi một tỉnh.
KKT ven biển Quảng Yên, với quy hoạch chung đến năm 2050 đã được phê duyệt, ngày càng khẳng định vai trò động lực quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Nằm trong chuỗi liên kết với KKT Đình Vũ – Cát Hải, KKT Vân Đồn và các cực tăng trưởng khác, Quảng Yên hội tụ điều kiện thuận lợi để phát triển quỹ đất chiến lược cho công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics và dịch vụ cảng biển. Không ngẫu nhiên mà nhiều tập đoàn đa quốc gia chọn các khu công nghiệp như Nam Tiền Phong, Bắc Tiền Phong, Bạch Đằng, Sông Khoai làm điểm đến; họ nhìn thấy sự kết hợp giữa hạ tầng cảng, giao thông, quỹ đất và môi trường đầu tư minh bạch.
Quảng Yên và Vân Đồn, nếu được triển khai đúng tầm quy hoạch, sẽ giúp Quảng Ninh không bị lệ thuộc vào khai thác than, mà chuyển sang mô hình tăng trưởng bằng công nghiệp sạch, dịch vụ biển và công nghệ. Điều này phù hợp với nhận định rằng những tiềm năng, lợi thế và kết quả phát triển kinh tế-xã hội của Quảng Ninh là nền tảng để nhà đầu tư yên tâm mở rộng quy mô, thu hút dự án có hàm lượng công nghệ cao. Về phía Vân Đồn, việc phát triển theo hướng khu kinh tế biển hiện đại gắn với du lịch chất lượng cao và công nghệ cũng tạo ra cơ hội thử nghiệm các mô hình phát triển bền vững ven biển, từ quản lý tài nguyên đến kiểm soát phát thải. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, Quảng Ninh sẽ khó đạt được mục tiêu trở thành một trung tâm kinh tế biển xanh, bền vững đúng nghĩa.

Mở rộng không gian kinh tế biển: Cơ hội đổi mô hình tăng trưởng cho các tỉnh ven biển
Việc Trung ương xác định kinh tế biển là động lực quan trọng và ban hành chương trình hành động thực hiện đã mở ra cơ hội mở rộng không gian phát triển từ biển cho các tỉnh ven biển. Quan trọng hơn, định hướng mới yêu cầu chuyển từ khai thác đơn lẻ sang phát triển theo chuỗi liên kết, từ tận dụng lợi thế tự nhiên sang tạo giá trị gia tăng bằng công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với cách tiếp cận đó, biển không chỉ là nguồn tài nguyên mà trở thành không gian tăng trưởng rộng lớn, gắn với cảng biển logistics, đô thị, công nghiệp, du lịch và thủy sản công nghệ cao.
Trường hợp Vân Phong cho thấy nếu có quy hoạch rõ, trụ cột công nghiệp – năng lượng – dịch vụ – đô thị được thiết kế đồng bộ, cùng mục tiêu hình thành khu công nghiệp sinh thái trước 2030, thì khu kinh tế biển có thể vừa tạo lực kéo GRDP vừa đi đầu chuyển đổi xanh. Quảng Ninh, với Quảng Yên và Vân Đồn, đang thử nghiệm mô hình kết nối các khu kinh tế ven biển trong vùng, biến từng địa phương thành mắt xích của chuỗi giá trị thay vì cạnh tranh lẫn nhau. Tuy nhiên, mô hình phát triển bền vững ven biển chỉ thành hiện thực nếu các địa phương coi bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, phát triển mô hình phát thải thấp là điều kiện bắt buộc, không phải lựa chọn tùy ý.
Nhìn rộng hơn, mở rộng không gian kinh tế biển tạo sức bật cho phát triển toàn diện các tỉnh ven biển: từ hạ tầng giao thông liên vùng, năng lực logistics, cơ cấu công nghiệp đến chất lượng đô thị và du lịch. Nhưng đó cũng là phép thử về năng lực quản trị quy hoạch, sự thống nhất giữa mục tiêu tăng trưởng và yêu cầu bảo vệ môi trường, an ninh. Nếu Vân Phong, Quảng Yên và Vân Đồn chứng minh được rằng có thể vừa tăng trưởng nhanh vừa xanh và thông minh, chúng sẽ trở thành hình mẫu cho cả dải ven biển trong hành trình xây dựng quốc gia biển mạnh. Ngược lại, nếu để tăng trưởng nóng lấn át, bài toán khắc phục hậu quả môi trường, xã hội sẽ đè nặng lên nhiều thế hệ sau.






