41,9% sau 7 tháng: Thành tích hay tín hiệu báo động?
Giải ngân đầu tư công là quá trình chuyển vốn đầu tư đã được phê duyệt trong kế hoạch ngân sách nhà nước thành khối lượng công việc hoàn thành và tiền thanh toán cho các dự án, qua đó đưa nguồn lực tài chính vào nền kinh tế thực, tạo ra hạ tầng, dịch vụ công và động lực tăng trưởng mới thông qua các công trình, dự án công trình trọng điểm, chương trình mục tiêu và dự án liên vùng.
Sau 7 tháng, cả nước mới giải ngân được khoảng 425.000 tỷ đồng vốn đầu tư công, tương đương 41,9% kế hoạch Thủ tướng giao. Nếu trừ phần vốn địa phương để dành cho tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và phần vốn mới giao trong tháng, tỷ lệ giải ngân kế hoạch đạt khoảng 43,8%. Nghe có vẻ tích cực khi so với cùng kỳ năm trước, cả tỷ lệ lẫn quy mô vốn giải ngân đều tăng. Nhưng đằng sau con số đẹp là sự thật khó chịu: hơn một nửa kế hoạch, khoảng trên 580.000 tỷ đồng, vẫn còn nằm trên giấy thay vì chảy vào nền kinh tế. Với quy mô vốn đầu tư công Việt Nam năm nay vượt 1 triệu tỷ đồng, việc tiến độ bị dồn vào những tháng cuối không chỉ là rủi ro kỹ thuật mà là rủi ro cho tăng trưởng.
Như một chuyên gia kinh tế nhận xét: “Giải ngân dồn vào cuối năm có thể khiến tốc độ tăng rất nhanh nhưng cũng làm tăng nguy cơ lãng phí và giảm hiệu quả sử dụng vốn”. Vấn đề không phải là nền kinh tế không hấp thụ được vốn, mà là hệ thống chưa tổ chức được một “đường băng” đủ trơn tru để dòng vốn cất cánh đúng nhịp.

Những nút thắt hệ thống: từ mặt bằng đến thủ tục và tâm lý an toàn
Để hiểu vì sao tỷ lệ giải ngân đầu tư công vẫn ì ạch, phải nhìn thẳng vào các nút thắt lặp đi lặp lại nhiều năm. Bộ Tài chính chỉ ra hàng loạt vướng mắc: thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng, giá nguyên vật liệu và nhiên liệu tăng làm nhiều hợp đồng phải điều chỉnh; bồi thường, giải phóng mặt bằng kéo dài do điều chỉnh quy hoạch, phát sinh diện tích thu hồi đất, di dời hạ tầng kỹ thuật và người dân chưa đồng thuận. Đây không chỉ là trở ngại kỹ thuật mà là vấn đề quản trị rủi ro và phối hợp chính sách đất đai – xây dựng – đầu tư.
Một lớp chướng ngại khác đến từ chính bộ máy: nhiều dự án mới vẫn loay hoay trong khâu chuẩn bị đầu tư, thẩm định, lựa chọn nhà thầu; dự án ODA bị “trói” bởi quy trình đấu thầu và giải ngân phức tạp, biến động tỷ giá làm đội chi phí. Các dự án khoa học, công nghệ, chuyển đổi số thì chậm vì phải cân nhắc lựa chọn giải pháp kỹ thuật phù hợp. Thậm chí, yếu tố thời tiết như mưa kéo dài cũng khiến thi công, vận chuyển vật liệu, nghiệm thu và thanh toán vốn bị chậm.
Đáng lo hơn, vẫn tồn tại tâm lý “an toàn là trên hết”: cán bộ sợ sai, nhà thầu sợ lỗ, địa phương sợ vượt khung. Kết quả là tiền có, nhu cầu có, nhưng dòng vốn bị mắc trong mạng lưới thủ tục và tâm lý phòng thủ. Nếu không triệt tiêu được kiểu quản lý “sợ trách nhiệm”, mọi giải pháp kỹ thuật chỉ chữa phần ngọn.

Lâm Đồng, Đồng Nai: Khi giải ngân trở thành nhiệm vụ chính trị và quản trị
Trong bức tranh chung còn nhiều gam tối, một số địa phương cho thấy giải pháp không nằm ở “thiếu tiền” mà ở cách điều hành. Sáng 7/8, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên chủ trì cuộc họp của Tổ công tác số 1 để kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công. Đây là thông điệp rõ ràng: giải ngân không phải việc riêng của chủ đầu tư hay ban quản lý dự án, mà là việc của cả hệ thống chính trị địa phương.
Dù tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 27–37% tùy nhóm dự án, Lâm Đồng đã nhận diện đúng bệnh: nhiều dự án chưa đủ điều kiện thanh toán, nhóm dự án lâm nghiệp phụ thuộc mùa vụ nên khối lượng thanh toán chỉ tập trung vào cuối năm. Việc thiết lập tổ công tác chuyên trách, yêu cầu các sở ngành báo cáo định kỳ và gắn trách nhiệm người đứng đầu là bước chuyển từ “xin – chờ” sang “chủ động gỡ nút”.
Đồng Nai đi xa hơn khi coi giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, đặt mục tiêu giải ngân 100% hơn 27.000 tỷ đồng được giao. Tính đến hết tháng 7, tỉnh đã giải ngân hơn 14.200 tỷ đồng, đạt trên 52% kế hoạch Trung ương giao – cao hơn đáng kể mặt bằng chung. Bí quyết không nằm ở khẩu hiệu, mà ở việc dồn lực cho các dự án công trình trọng điểm, cơ sở hạ tầng then chốt và thiết kế lại công tác điều hành để “chấm dứt tâm lý trông chờ” trong hệ thống.

Tư duy ‘đường tới hạn’: Tập trung dứt điểm những mắt xích quyết định
Điểm chung của các nút thắt giải ngân đầu tư công là tính lặp lại và phân tán: ở khâu chuẩn bị dự án, đất đai, đấu thầu, thanh toán. Nếu ai cũng cố gắng một chút ở mọi khâu, nhưng không ai dồn lực vào đúng “mắt xích trên đường tới hạn”, tiến độ toàn hệ thống vẫn bị kìm hãm. Theo phân tích của một phó giáo sư kinh tế, cần rà soát toàn bộ quy trình đầu tư, nhận diện những điểm nghẽn then chốt và tập trung xử lý ngay các giai đoạn quyết định tiến độ. Nói cách khác, phải vẽ lại “sơ đồ đường găng” về quản lý, chứ không chỉ cho kỹ sư công trình.
Điều này đòi hỏi vài thay đổi dứt khoát. Thứ nhất, siết kỷ luật kế hoạch: không lập kế hoạch giải ngân vượt xa năng lực chuẩn bị, để rồi dồn áp lực vào cuối năm, gây nguy cơ thi công chạy đua, giảm chất lượng và lãng phí nguồn lực. Thứ hai, phân quyền đi đôi với ràng buộc trách nhiệm rõ ràng cho từng mắt xích – từ phê duyệt chủ trương đầu tư, thu hồi đất đến lựa chọn nhà thầu và nghiệm thu.
Thứ ba, cần công khai “đường tới hạn” của từng dự án công trình trọng điểm: khâu nào quyết định, ai chịu trách nhiệm, thời hạn ra sao. Khi thông tin tiến độ trở thành áp lực xã hội và chính trị cụ thể, tâm lý trì hoãn sẽ khó còn đất sống. Và quan trọng hơn, thay vì chạy theo tỷ lệ giải ngân kế hoạch để đẹp báo cáo, hệ thống sẽ buộc phải tập trung vào chất lượng và nhịp độ giải ngân theo đúng lộ trình kinh tế.

Từ chấm điểm KPI đến cải cách thật: Làm sao biến vốn thành tăng trưởng?
Một tín hiệu cải cách là việc áp dụng hệ thống chấm điểm kết quả giải ngân vốn đầu tư công theo Quyết định 1129 của Thủ tướng, với cách đánh giá hàng tháng, hàng quý và cả năm. Phương án chấm điểm sẽ được chạy thử với các kỳ báo cáo tháng 7, 8, 9. Làm tốt, đây có thể trở thành “bảng điều khiển” giúp phát hiện sớm dự án chậm, bộ ngành yếu và tạo áp lực cải thiện. Làm dở, nó lại biến thành một cuộc chạy đua thành tích phần trăm, trong khi những vướng mắc về thể chế và đất đai vẫn y nguyên.
Điều cần thiết không phải là thêm biểu mẫu mà là thêm quyết tâm xử lý đến cùng những nút thắt đã chỉ ra: hoàn thiện khung pháp lý về đất đai và đền bù; chuẩn hóa quy trình chuẩn bị dự án; đơn giản hóa thủ tục cho các dự án ODA và khoa học – công nghệ; và bảo đảm sự phối hợp liên ngành thực chất, thay vì hội họp hình thức. Nếu các biện pháp quyết liệt được triển khai trong những tháng cuối năm, tổng cầu sẽ được kích thích mạnh hơn và đầu tư công sẽ tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế.
Kết luận phải rõ: 41,9% không phải thảm bại, nhưng không đủ với kỳ vọng của một năm có quy mô vốn kỷ lục. Câu chuyện lúc này không còn là “có giải ngân được 100% hay không”, mà là “có biến được hơn 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công thành các dự án công trình trọng điểm hiệu quả, đúng tiến độ và tạo sức bật tăng trưởng bền vững hay không”. Câu trả lời phụ thuộc vào việc chúng ta dám đi tới cùng với tư duy “đường tới hạn” đến mức nào.







