Du lịch di sản văn hóa: từ lợi thế tự nhiên đến sức mạnh thương hiệu
Du lịch di sản văn hóa là chiến lược phát triển điểm đến dựa trên giá trị lịch sử, nghệ thuật, phong tục và đời sống cộng đồng, biến các di sản vật thể và phi vật thể thành những chuỗi trải nghiệm có chiều sâu, giúp gia tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và sự gắn kết cảm xúc của du khách với địa phương; qua đó tạo nền tảng cho thương hiệu du lịch Bắc Bộ phát triển theo hướng khác biệt và phát triển du lịch bền vững lâu dài. Trong bức tranh ấy, Quảng Ninh và Bắc Ninh đang đứng ở hai vị thế bổ sung cho nhau: một bên đi từ tài nguyên thiên nhiên nổi tiếng sang xây dựng thương hiệu gắn với bản sắc vùng mỏ và văn hóa biển đảo, bên kia sở hữu hệ thống di sản đã được UNESCO ghi danh nhưng còn loay hoay với bài toán giữ chân du khách qua đêm. Cả hai cho thấy thương hiệu không tự nhiên mà có; nó được tạo từ lựa chọn chiến lược.
Quảng Ninh: đặt lại cuộc chơi từ thiên nhiên sang thương hiệu khác biệt
Nếu trước đây hình ảnh Quảng Ninh bị “đồng nhất hóa” với Vịnh Hạ Long, hôm nay tỉnh chủ động định vị lại mình bằng chiến lược thương hiệu, chất lượng và sự khác biệt. Thay vì chạy theo số lượng, Quảng Ninh tập trung vào các thị trường có mức chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài như Hàn Quốc, Nhật Bản, châu Âu, Ấn Độ hay Đông Nam Á. Một chuyến công tác tại Liên bang Nga đầu tháng 7 không chỉ quảng bá điểm đến mà còn mở ra hợp tác doanh nghiệp để khai thác thị trường khách Nga – dòng khách truyền thống đang phục hồi. Đáng chú ý, tỉnh đặt mục tiêu năm 2026 đón trên 22 triệu lượt khách và đến 2030 đạt 26–28 triệu lượt, trong đó khoảng 9 triệu khách quốc tế, doanh thu du lịch phấn đấu khoảng 158.000 tỷ đồng. Đây là tuyên bố tham vọng nhưng nhất quán với hướng đi: nâng chất lượng khách, không tăng trưởng bằng mọi giá nhằm tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho du lịch địa phương.

Từ trải nghiệm UNESCO đến hệ sinh thái du lịch Bắc Ninh
Bắc Ninh sở hữu một “mỏ vàng” di sản văn hóa đã được UNESCO ghi danh: dân ca quan họ, tranh Đông Hồ, hệ thống chùa tháp và làng nghề truyền thống. Thế nhưng kho tàng ấy mới được khai thác như các điểm tham quan đơn lẻ hơn là một hệ sinh thái trải nghiệm UNESCO liền mạch. Nhà hát Dân ca Quan họ duy trì hai buổi diễn mỗi tháng tại hồ Vua Bà ở Viêm Xá, Trung tâm triển lãm tranh Đông Hồ kết hợp rối nước Đồng Ngư và quan họ vào một số dịp lễ hội. Đây là nỗ lực đáng ghi nhận nhưng vẫn tạo cảm giác “ghé thăm rồi đi”: du khách chủ yếu đến trong ngày, ít lưu trú dài. Câu hỏi chiến lược ở đây không phải có thêm bao nhiêu buổi diễn, mà là làm sao để một câu quan họ níu chân du khách ở lại thêm một đêm, để một bức tranh Đông Hồ trở thành món quà mang câu chuyện văn hóa Bắc Ninh đi xa, và để mỗi ngôi làng có thêm sinh kế bền vững từ du lịch di sản văn hóa.

Thiết kế trải nghiệm và chuyển đổi số: mắt xích còn thiếu của thương hiệu Bắc Bộ
Điểm chung trong bài toán thương hiệu du lịch Bắc Bộ là trải nghiệm. Quảng Ninh đã hiểu rằng xúc tiến du lịch không thể dừng lại ở quảng bá hình ảnh, mà phải gắn với phát triển sản phẩm mới và chuyển đổi số. Tỉnh đang đưa vào khai thác hàng chục sản phẩm như phố đi bộ Vui Fest ở Bãi Cháy, du thuyền Hop on – Hop off, trải nghiệm ban đêm tại Bảo tàng – Thư viện, hành trình văn hóa Hồng Gai hay tuyến kết nối Hạ Long – Lan Hạ. Những sản phẩm tích hợp nghỉ dưỡng, du thuyền, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa này kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách. Song song, việc ứng dụng công nghệ từ khâu tìm kiếm thông tin, đặt dịch vụ, thanh toán đến đánh giá sau chuyến đi giúp tối ưu hành trình, nhất là với nhóm khách trẻ, khách tự túc. Bắc Ninh hoàn toàn có thể học cách thiết kế các tour chuyên đề gắn với quan họ, tranh Đông Hồ, ẩm thực và trò chơi dân gian, trong đó du khách tự tay in tranh, học hát, mặc trang phục quan họ, mua sản phẩm thủ công; khi trải nghiệm UNESCO gắn với đời sống thường ngày, thương hiệu du lịch Bắc Bộ sẽ bớt “khô” và bền vững hơn.

Kết luận: Thương hiệu vùng chỉ bền khi đi cùng sinh kế và trải nghiệm sâu
Câu chuyện của Quảng Ninh và Bắc Ninh cho thấy một nguyên tắc rõ ràng: không thể xây thương hiệu du lịch Bắc Bộ chỉ bằng cảnh đẹp hay danh hiệu UNESCO, mà phải bằng những trải nghiệm sống động chạm đến cảm xúc và túi tiền của du khách. Quảng Ninh đang đi trước với chiến lược ưu tiên khách chi tiêu cao, đa dạng hóa sản phẩm và chuyển đổi số để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Bắc Ninh đứng trước cơ hội biến di sản thành tài sản khi thiết kế được hệ sinh thái trải nghiệm UNESCO có khả năng níu chân khách thêm đêm, tạo thu nhập cho nghệ nhân và sinh kế mới cho làng quê. Nếu hai địa phương cùng coi du lịch di sản văn hóa là trục phát triển du lịch bền vững, kết nối sản phẩm với nhau, thương hiệu du lịch Bắc Bộ hoàn toàn có thể bước ra khỏi vùng an toàn “tham quan trong ngày” để trở thành điểm đến của những hành trình khám phá văn hóa sâu và lâu.






