Nghịch lý đầu tư công và biên lợi nhuận nhà thầu
Nghịch lý ngành xây dựng hiện nay là dù khối lượng đầu tư công và các dự án hạ tầng tăng mạnh, biên lợi nhuận nhà thầu lại liên tục bị thu hẹp, chủ yếu vì áp lực chi phí xây dựng từ giá vật liệu, nhân công và máy thi công không được phản ánh kịp thời trong đơn giá và cơ chế giao nhận thầu, khiến doanh nghiệp phải gánh phần rủi ro chênh lệch. Ngành vật liệu xây dựng đang phục hồi nhờ quy mô vốn đầu tư công hơn 1 triệu tỷ đồng, mức cao nhất từ trước tới nay. Nhưng phía nhà thầu, cảm nhận lại không phải là "cơn mưa vàng" mà là sức ép lợi nhuận giảm. Hiệp hội nhà thầu đã chỉ ra: nguồn việc nhiều, đảm bảo cho vài năm tới, nhưng biên lợi nhuận giảm rõ rệt. Đây là nghịch lý mang tính cấu trúc, không thể giải bằng vài biện pháp tình thế.

Đầu tư công bùng nổ, giá vật liệu xây dựng leo thang
Gốc rễ đầu tiên của áp lực chi phí xây dựng nằm ở giá vật liệu xây dựng tăng đồng loạt trong bối cảnh đầu tư công Việt Nam bùng nổ. Tổng vốn đầu tư công phân bổ trong năm được ước tính khoảng 1,08 triệu tỷ đồng, tăng 12% so với năm trước. Thép, xi măng, cát, đá đều tăng sản lượng và giá; riêng sản lượng thép thô 7 tháng đầu năm đạt 17,92 triệu tấn, tăng tới 28% so với cùng kỳ. Giá thép xây dựng sau Tết đã tăng thêm khoảng vài trăm nghìn đồng mỗi tấn, với một số báo giá quanh 16,2 triệu đồng/tấn. Cát xây dựng cũng tăng khoảng 5-10% so với đầu năm. Đà tăng này tạo áp lực chi phí xây dựng trực tiếp lên nhà thầu, khi chi phí vật liệu tại các dự án cao tốc mới có thể chiếm tới 55-70% tổng chi phí. Trong khi đó, khung giá và định mức công bố nhiều nơi lại chậm điều chỉnh, khiến biên lợi nhuận nhà thầu bị ăn mòn ngay từ giá vốn.
Áp lực này không chỉ dừng ở các dự án hạ tầng lớn. Tại nhiều địa phương, giá vật liệu xây dựng tăng 50-70% khiến phát triển nhà ở xã hội rơi vào bài toán kép: vừa phải giữ giá bán theo quy định, vừa chịu chi phí đầu vào tăng. Ở phân khúc nhà ở dân dụng, biến động giá liên tục làm chi phí xây dựng trở thành nỗi lo thường trực cho cả chủ nhà lẫn nhà thầu. Điều đáng nói là doanh nghiệp vật liệu hưởng lợi với lợi nhuận cải thiện rõ, trong khi nhà thầu công trình lại bị kẹp giữa giá đầu vào biến động và đơn giá hợp đồng cố định theo thời điểm đấu thầu.

Thiếu lao động công trường và khoảng cách đơn giá nhân công
Yếu tố thứ hai làm biên lợi nhuận nhà thầu co lại là thiếu lao động công trường trong khi đơn giá nhân công công bố không theo kịp thị trường. Với tổng mức đầu tư công khoảng 1 triệu tỷ đồng và thêm khoảng 800.000 tỷ đồng vốn tư nhân, ước tính ngành xây dựng cần khoảng 2 triệu công nhân các bậc thợ; nhưng khả năng cung cấp chỉ đáp ứng khoảng một nửa. Tình trạng thiếu hụt kéo dài khiến lực lượng tại công trường "già hóa", phần lớn trên 45 tuổi, vừa già vừa thiếu, khó đáp ứng tiến độ thi công tăng mạnh. Trong điều kiện khan hiếm, nhà thầu buộc phải nâng lương thực trả lên gấp đôi, thậm chí gấp ba mức công bố. Đơn giá nhân công hiện một số nơi chỉ 357.000 đồng/công, trong khi thực tế nhà thầu phải trả từ 700.000 đến 1.200.000 đồng/công.
Khoảng cách này được phản ánh rõ ở số liệu của một doanh nghiệp lớn: giá nhân công công bố nằm trong khoảng 282.000-376.000 đồng mỗi ngày công, trong khi chi phí thực tế lên tới 600.000-950.000 đồng/ngày. Doanh nghiệp đồng thời gặp khó trong tuyển dụng từ lao động phổ thông đến kỹ sư hiện trường, nhân sự kiểm soát chất lượng, an toàn và vận hành thiết bị khi quá nhiều dự án lớn triển khai cùng lúc. Kết quả là chi phí nhân công thực chi tăng mạnh, nhưng lại không được bù trong giá hợp đồng, tiếp tục bào mòn biên lợi nhuận nhà thầu. Đây là kiểu áp lực chi phí kép: vật liệu tăng, nhân công tăng, nhưng đơn giá và định mức vẫn đứng yên.
Cơ chế giao nhận thầu và đơn giá: điểm nghẽn mang tính thể chế
Đằng sau câu chuyện chi phí không chỉ là thị trường, mà còn là cơ chế giao nhận thầu và đơn giá thiếu linh hoạt. Phần lớn nhà thầu Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ; số doanh nghiệp vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng đã được xem là lớn. Nhưng họ phải tham gia các gói thầu quy mô rất lớn, buộc phải liên danh nhiều bên, trong khi pháp luật đấu thầu lại chưa quy định rõ hình thức tổ hợp nhà thầu, tổng thầu hay nhà thầu quản lý. Điều này khiến việc phân chia trách nhiệm, chi phí, rủi ro trong tổ hợp trở nên mờ, chi phí phát sinh khó được nhận diện và thương lượng lại với chủ đầu tư. Hiệp hội nhà thầu đã kiến nghị bổ sung, làm rõ các hình thức giao nhận thầu nói trên để khi áp dụng bảo đảm minh bạch. Nếu không, nhà thầu sẽ tiếp tục chịu phần rủi ro lớn nhất, trong khi dư địa điều chỉnh giá lại thuộc về cơ quan công bố.
Một điểm nghẽn khác là định mức, đơn giá và cơ chế mỏ vật liệu rời. Song giá công bố hiện không sát với thực tế. Khoảng cách này khiến quá trình lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng thiếu chính xác ngay từ đầu. Tại cuộc làm việc gần đây giữa Hiệp hội nhà thầu và Phó Thủ tướng Thường trực, vấn đề này được đưa ra như trọng tâm thảo luận. Theo Thông báo số 470/TB-VPCP ngày 11/9, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ quản lý chuyên ngành đôn đốc các địa phương công bố kịp thời giá vật liệu, giá nhân công, máy thi công, giá xây dựng và định mức để phục vụ việc lập và quản lý chi phí. Đồng thời, cơ quan liên quan phải đánh giá nguồn cung, nhu cầu vật liệu xây dựng và hoàn thiện cơ chế điều phối liên vùng để xử lý thiếu hụt cục bộ khi nhiều dự án hạ tầng triển khai cùng lúc. Đây là những động thái đúng hướng, nhưng mới ở mức đặt nền móng.
Hướng đi nào cho nhà thầu trong chu kỳ đầu tư công mới?
Trong bối cảnh đầu tư công Việt Nam được dự báo tiếp tục hưởng lợi trong nửa cuối năm và có thể kéo dài sang năm sau, nghịch lý "việc tăng, biên lợi nhuận giảm" sẽ không tự biến mất. Một số nhà thầu lớn đã cho thấy bức tranh phân hóa: cùng khối lượng công việc tăng nhưng hiệu quả khác nhau. Có doanh nghiệp như CC1, doanh thu xây dựng tăng 31% nhưng lợi nhuận gộp mảng này âm gần 94 tỷ đồng; trong khi doanh nghiệp khác vẫn duy trì lợi nhuận tổng thể nhờ các mảng tài chính hoặc đầu tư khác. Sự phân hóa này là tín hiệu cảnh báo: nếu chỉ chạy theo khối lượng hợp đồng trong môi trường chi phí đầu vào biến động và đơn giá cứng, nhà thầu dễ rơi vào bẫy doanh thu cao nhưng lợi nhuận thấp, thậm chí lỗ gộp.
Về phía chính sách, yêu cầu công bố kịp thời giá vật liệu, nhân công, máy thi công và hoàn thiện cơ chế điều phối nguồn cung vật liệu là bước cần thiết để giảm áp lực chi phí xây dựng. Nhưng để nghịch lý hiện nay được giải, cần đi xa hơn: luật hóa các hình thức tổ hợp nhà thầu, tổng thầu, nhà thầu quản lý với nguyên tắc minh bạch; cập nhật định mức, đơn giá sát thị trường; gắn trách nhiệm chia sẻ rủi ro giữa chủ đầu tư, cơ quan quản lý và nhà thầu. Về phía doanh nghiệp, câu hỏi không còn là "làm thêm bao nhiêu dự án" mà là "chọn dự án nào có biên lợi nhuận đủ để tồn tại". Nếu không, chu kỳ đầu tư công kỷ lục sẽ tạo ra nhiều công trình mới, nhưng lại làm yếu đi chính lực lượng xây dựng đang gánh vác chúng.






