Nghịch lý: đầu tư công kỷ lục, biên lợi nhuận nhà thầu lại mỏng đi
Nghịch lý “nhà thầu xây dựng Việt Nam có nhiều việc hơn nhưng ít lãi hơn” là hiện tượng doanh thu và khối lượng hợp đồng tăng mạnh nhờ bùng nổ đầu tư công, trong khi biên lợi nhuận giảm do giá nguyên liệu, chi phí nhân công và các cơ chế đơn giá – định mức không theo kịp thị trường, khiến phần rủi ro tài chính bị đẩy gần như hoàn toàn sang phía nhà thầu. Trong năm nay, ngành vật liệu và xây dựng được kích hoạt bởi quy mô vốn đầu tư công hơn 1 triệu tỷ đồng, mức cao nhất từ trước tới nay. Theo ước tính cơ quan tài chính, tổng vốn đầu tư công phân bổ khoảng 1,08 triệu tỷ đồng, tăng 12% so với năm trước. Tuy vậy, đến 10/9, giải ngân mới đạt khoảng 523.813,6 tỷ đồng, tương đương 51,2% kế hoạch. Nguồn việc dồi dào nhưng khả năng biến khối lượng thành lợi nhuận lại bị bóp nghẹt ngay trong cấu trúc cơ chế hiện hành.
Điều đáng nói là nghịch lý này không xuất phát từ năng lực thi công kém, mà từ “thiết kế thể chế” đang phân bổ rủi ro sai chỗ. Các tổng công ty như CC1, Vinaconex đều báo cáo lượng hợp đồng ký mới lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, đủ việc cho vài năm tới. Nhưng CC1 dù doanh thu 6 tháng tăng hơn 31% vẫn lỗ gộp 94 tỷ đồng. Nói cách khác, tăng trưởng hiện tại là tăng trưởng “không chất béo”: quy mô phình ra, nhưng phần lợi nhuận – phần mà doanh nghiệp cần để tái đầu tư, đổi mới công nghệ và trả lương xứng đáng – lại ngày càng mỏng. Nếu không nhìn thẳng vào cơ chế giao nhận thầu, định giá, quản lý vật liệu và lao động, dòng vốn đầu tư công sẽ tiếp tục bị “rò rỉ” vào chi phí và chậm tiến độ thay vì trở thành động lực làm khỏe ngành xây dựng.
Giá nguyên liệu xây dựng leo thang: nhà sản xuất lãi, nhà thầu “gánh đạn”
Khi nhìn sâu vào cấu trúc chi phí, mắt xích đầu tiên bóp nghẹt biên lợi nhuận chính là giá nguyên liệu xây dựng. Ngành vật liệu đang phục hồi mạnh nhờ đầu tư công, thép và xi măng tăng cả sản lượng lẫn giá bán. Giá thép xây dựng đã tăng thêm khoảng 350.000–600.000 đồng mỗi tấn so với sau Tết, có báo giá quanh mức 16,2 triệu đồng/tấn. Một câu có thể trích dẫn là: “Đà tăng đồng loạt của thép, xi măng, cát, đá đang tạo áp lực chi phí rõ rệt lên các nhà thầu xây dựng”. Trong khi các nhà sản xuất thép lớn ghi nhận lợi nhuận sau thuế tăng tới 51%, thậm chí lũy kế nửa đầu năm tăng hơn gấp đôi, nhà thầu lại gần như không có cơ chế bù giá tương xứng cho những hợp đồng đã ký trước khi giá vật liệu leo thang.
Đây là điểm bất công về phân bổ lợi ích trong chuỗi giá trị. Giá vật liệu tăng được “khóa” thành lợi nhuận của nhà sản xuất, nhưng lại trở thành chi phí bổ sung chết người đối với nhà thầu – đặc biệt trong các gói đấu thầu cố định, hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá không kịp điều chỉnh. Ở phân khúc nhà ở dân dụng, tác động còn lan tới người dân, khi biến động giá vật liệu liên tục khiến cả nhà thầu lẫn chủ nhà đều chịu áp lực chi phí và tiến độ. Nếu cơ chế hợp đồng tiếp tục coi rủi ro giá là chuyện “tự chịu” của nhà thầu, thì mỗi đợt tăng giá thép, xi măng, cát, đá mới là một lần biên lợi nhuận bị cắt sâu hơn. Đầu tư công lớn, nhưng lợi ích phần nhiều đang dừng ở khâu vật liệu, trong khi khâu thi công chịu rủi ro nhiều nhất lại hưởng ít nhất.

Chi phí nhân công xây dựng và đơn giá lạc hậu: biên lợi nhuận bị bào mòn từ bên trong
Nếu giá nguyên liệu là “cú đánh” từ bên ngoài, thì chi phí nhân công xây dựng và hệ thống đơn giá, định mức lạc hậu là “vết cắt” từ bên trong hợp đồng. Đơn giá tiền lương theo quy định hiện nay chỉ khoảng 357.000 đồng/công, trong khi thực tế nhà thầu phải trả từ 700.000 đến 1.000.000 đồng, có nơi tới 1.200.000 đồng/công. Khoảng chênh lệch gần gấp đôi, thậm chí hơn, buộc doanh nghiệp phải trích trực tiếp vào biên lợi nhuận. Nguy hiểm hơn, một số công ty lớn còn đưa ra mức giá lao động gấp 2 lần giá thị trường để hút nhân công, tạo ra cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường lao động. Khi chi phí nhân công leo thang mà đơn giá hợp đồng không kịp cập nhật, phần lợi nhuận dự kiến nhanh chóng biến mất, biến các gói thầu từ “có lãi” thành “làm cho có việc, giữ chân bộ máy”.
Trên nền chi phí nhân công bị định giá thấp, các nhà thầu còn phải xoay xở với hệ thống định mức – đơn giá chưa phản ánh đúng công nghệ, điều kiện thi công hiện nay. Hệ quả là bài toán tài chính của một dự án hạ tầng thường bị “ảo tưởng” ngay từ bước lập dự toán; khi bước vào thi công, doanh nghiệp nhận ra chi phí thực cao hơn đáng kể nhưng lại thiếu cơ chế pháp lý để điều chỉnh. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là vấn đề phân chia rủi ro: Nhà nước và chủ đầu tư được hưởng lợi từ dự toán thấp, nhưng rủi ro biến động vật liệu và nhân công phần lớn trút lên nhà thầu. Nếu tiếp tục duy trì cách làm này, ngành xây dựng sẽ rơi vào vòng xoáy thiếu vốn, không tích lũy được, và cuối cùng là suy giảm chất lượng công trình hoặc chậm tiến độ – những điều mà xã hội phải trả giá.
Nút thắt cơ chế giao nhận thầu và mỏ vật liệu: khi luật chơi không phù hợp với thực tế
Ngay cả khi chấp nhận biên lợi nhuận mỏng, nhiều nhà thầu xây dựng Việt Nam vẫn bị hạn chế khả năng hấp thụ vốn do các nút thắt cơ chế giao nhận thầu. Phần lớn doanh nghiệp trong ngành là vừa và nhỏ, vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng đã được coi là lớn. Với những dự án quy mô rất lớn như nhà ga chính sân bay Long Thành, tám nhà thầu trong nước phải liên doanh thành tổ hợp nhà thầu cùng đối tác nước ngoài để dự thầu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ pháp luật hiện hành lại chưa có hình thức “tổ hợp nhà thầu” hay “tổng thầu” một cách rõ ràng. Điều này khiến các liên danh luôn trong trạng thái “lưng chừng pháp lý”: nếu tổ chức thi công linh hoạt, họ có nguy cơ bị coi là bán thầu; nếu bám chặt quy định cứng nhắc, dự án lại khó khai thác tối đa năng lực từng bên.
Thêm vào đó, nhiều gói thầu cầu, đường cao tốc buộc phải huy động nhà thầu phụ và các đội thi công, trong khi hành lang pháp lý về điều này chưa hoàn chỉnh. Cùng với đó là cơ chế mỏ vật liệu rời – cát, đá, đất san lấp – vẫn là điểm nghẽn lớn: quy định siết chặt khai thác khiến nguồn cung khó khăn, nhưng lại thiếu một cơ chế ổn định, minh bạch để nhà thầu tiếp cận vật liệu với giá hợp lý dài hạn. Kết quả là rủi ro pháp lý và rủi ro chi phí chồng lên nhau. Ngay cả cơ chế chỉ định thầu cho các dự án cấp bách cũng chưa rõ tiêu chí, trong bối cảnh chưa có hệ thống đánh giá năng lực chuẩn cho nhà thầu. Nói thẳng, luật chơi hiện nay vừa mơ hồ vừa cứng nhắc: mơ hồ ở chỗ thiếu định nghĩa cho các hình thức liên danh phức tạp, cứng nhắc ở chỗ lại quá chậm trong cập nhật định mức, đơn giá và quản trị mỏ vật liệu.
Giải pháp từ Hiệp hội Nhà thầu: sửa luật chơi để biên lợi nhuận không còn “âm thầm chảy máu”
Trong bối cảnh đầu tư công dự báo tiếp tục duy trì ở mức cao sang cả năm sau, câu hỏi không còn là “có việc hay không” mà là “nhà thầu có sống khỏe nổi với khối lượng việc này không”. Hiệp hội Các Nhà thầu xây dựng Việt Nam đã đưa ra một loạt đề xuất nhằm “sửa luật chơi” thay vì chỉ kêu gọi doanh nghiệp tự thắt lưng buộc bụng. Thứ nhất, Hiệp hội kiến nghị bổ sung, làm rõ trong Luật Đấu thầu các hình thức giao nhận thầu như tổ hợp nhà thầu, tổng thầu, nhà thầu quản lý để khi áp dụng bảo đảm minh bạch. Thứ hai, với cơ chế chỉ định thầu cho dự án cấp bách, cần làm rõ tiêu chí lựa chọn nhà thầu trong bối cảnh chưa có hệ thống đánh giá năng lực chuẩn; Hiệp hội đã xin ý kiến cơ quan quản lý và đang triển khai thí điểm việc đánh giá năng lực nhà thầu xây dựng trong nước.
Về nhân lực và chi phí lao động, Hiệp hội đề nghị sớm bổ sung quy chế và đơn giá tiền lương cho ngành xây dựng, phù hợp với thị trường lao động hiện nay, đồng thời có biện pháp ngăn chặn tình trạng phá giá thị trường lao động bằng việc trả lương bất thường cao để giành lao động. Xa hơn, cần một chiến lược đào tạo chung cho cả nước về nguồn nhân lực xây dựng, tập trung vào các lĩnh vực cần đổi mới công nghệ để ngành bắt kịp trình độ quốc tế. Ở góc độ chính sách, nếu không chấp nhận điều chỉnh định mức, đơn giá và cơ chế vật liệu cho sát thực tế, thì bất kỳ gói đầu tư công nào – dù có quy mô hơn 1 triệu tỷ đồng – cũng chỉ là “cú hích nửa vời”: tạo ra tăng trưởng số lượng, nhưng không tạo ra năng lực tài chính bền vững cho nhà thầu. Khi biên lợi nhuận ngừng chảy máu, nhà thầu mới đủ sức đầu tư máy móc, công nghệ, quản trị – và khi đó, mỗi đồng đầu tư công mới được chuyển thành chất lượng công trình và tiến độ nhìn thấy được.






