Tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai: mục tiêu đúng, điểm nghẽn nằm ở giáo viên
Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là một chủ trương nhằm dịch chuyển từ việc học tiếng Anh như một môn thi sang dùng tiếng Anh như công cụ để học các môn khác, giao tiếp, sáng tạo và hội nhập, đòi hỏi cả hệ thống giáo dục cùng chuẩn bị, trong đó năng lực và tâm thế của đội ngũ giáo viên là điều kiện quyết định. Nghị quyết số 71-NQ/TW đã vạch ra lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, kèm kế hoạch thực hiện giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn 2045. Về mặt chính sách, mục tiêu rất rõ ràng: học sinh phải “từ học tiếng Anh sang dùng tiếng Anh để học”. Nhưng giữa khẩu hiệu và thực tế là một khoảng cách lớn mà giáo viên tiếng Anh và giáo viên các môn khác đang phải gánh. Nếu năng lực giáo viên không theo kịp, chính sách dễ biến thành phong trào hình thức, tạo thêm áp lực mà không cải thiện chất lượng.

Trường học tại TP.HCM: nơi giáo viên được luyện năng lực lẫn tâm thế
Nhìn vào các trường ở TP.HCM, có thể thấy nơi nào đối xử với giáo viên như trung tâm của đổi mới, nơi đó dự án tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai có cơ hội thành công. Tại Trường Tiểu học Nguyễn Huệ, hiệu trưởng Bùi Thị Thanh cho biết nhà trường sẽ bắt đầu triển khai hoạt động nâng cao năng lực tiếng Anh cho giáo viên từ năm học 2025-2026, dùng giáo viên tiếng Anh hỗ trợ đồng nghiệp các môn khác và duy trì câu lạc bộ tiếng Anh dành cho giáo viên. Điểm đáng chú ý là cách trường này xử lý tâm lý sợ sai của giáo viên. Họ tổ chức “lớp học mô phỏng”, nơi giáo viên tiếng Anh hoặc người có trình độ ngoại ngữ tốt đóng vai học sinh để đồng nghiệp tập dượt bài giảng bằng tiếng Anh trước khi vào lớp thật. Sau quá trình thực hành, giáo viên được phân thành ba nhóm theo năng lực: nhóm giỏi hỗ trợ đồng nghiệp, nhóm tiềm năng tiếp tục đào tạo, nhóm hạn chế được xây lộ trình tự học và hỗ trợ thêm. Cách làm này thừa nhận chênh lệch năng lực giáo viên và xử lý bằng đào tạo thực tế, không ép đồng loạt.

Môi trường thẩm thấu tiếng Anh: không thể thiếu nhưng không thay thế được giáo viên
Nhiều trường ở TP.HCM đang tạo môi trường thẩm thấu tiếng Anh để hỗ trợ giáo viên và học sinh. Tại Trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa, việc tạo môi trường sử dụng tiếng Anh diễn ra ở nhiều không gian khác nhau: bàn học, góc học tập, bảng tin, sản phẩm học tập và một số nội dung thông tin trong trường được thể hiện bằng tiếng Anh hoặc song ngữ. Trường tổ chức ngoại khóa, trải nghiệm, giao lưu quốc tế, tạo thêm cơ hội cho học sinh dùng tiếng Anh ngoài lớp học. Theo một cố vấn chiến lược, thành công của dự án không phụ thuộc vào tốc độ triển khai mà vào “mức độ chuẩn bị của đội ngũ giáo viên và sự phân hóa phù hợp theo điều kiện từng địa phương”. Điều này phản ánh một thực tế: môi trường tiếng Anh phong phú là cần thiết, nhưng nếu giáo viên thiếu năng lực giảng dạy và năng lực ngôn ngữ, việc trang trí song ngữ sẽ dừng ở mức đẹp mắt, không trở thành trải nghiệm học tập thực chất.

Điểm nghẽn giáo viên: không chỉ thiếu số lượng mà thiếu năng lực phù hợp
Để dạy một môn bằng tiếng Anh, giáo viên cần ba năng lực: tiếng Anh đủ dùng, kiến thức chuyên môn vững, và khả năng giảng dạy môn đó bằng tiếng Anh. Đối với nhiều giáo viên đang công tác, yêu cầu này là thách thức khi họ chưa được đào tạo cho mô hình dạy học song ngữ từ đầu. Dù một số địa phương đã có bước chuẩn bị đáng kể – như Thanh Hóa hiện có hơn 3.400 giáo viên tiếng Anh, trong đó hơn 2.800 người (82,9%) đạt chuẩn B1 trở lên, với nhiều người đạt B2, C1 – kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2026 cho thấy điểm trung bình môn tiếng Anh mới đạt 4,82, thấp hơn kỳ vọng, học sinh vẫn yếu kỹ năng nghe, nói và sử dụng tiếng Anh trong thực tế. Thiếu giáo viên tiếng Anh ở tiểu học, vùng núi, sự phân bổ không đều giữa địa phương, chênh lệch về năng lực chuyên môn, kỹ năng công nghệ và tổ chức hoạt động giao tiếp tiếng Anh cho thấy bài toán năng lực giáo viên phức tạp hơn chuyện “đủ người”. Nếu chỉ nhìn vào số lượng giáo viên tiếng Anh mà bỏ qua chất lượng đào tạo và khả năng phối hợp với giáo viên các môn khác, dự án tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai sẽ mắc kẹt ở những lớp học “học để thi”, không phải “học để dùng”.

Cần một hệ sinh thái đào tạo giáo viên, không phải vài khóa bồi dưỡng lẻ tẻ
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không quốc gia nào chỉ đầu tư vào giáo viên hoặc chương trình; họ xây một hệ sinh thái phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà trường, cơ sở đào tạo và nghiên cứu. Việt Nam bắt đầu có những mảnh ghép của hệ sinh thái này. Trong giai đoạn 2020–2026, một trường đại học sư phạm đã chủ động triển khai và mở rộng chương trình đào tạo chuyên ngành bằng tiếng Anh để đáp ứng yêu cầu hội nhập và chuẩn bị nguồn giáo viên chất lượng cao, với tổng tuyển sinh 445 sinh viên cho các ngành Toán, Hóa, Tin, Lý, Sinh và Giáo dục Tiểu học. Tỷ lệ học phần chuyên môn dạy bằng tiếng Anh ở ngành Sư phạm Toán đã tăng từ 85% lên 95%; Hóa đạt 60%, Tiểu học 45%. Đáng chú ý, giảng viên của trường thường xuyên tham gia các khóa bồi dưỡng tiếng Anh chuyên sâu như chương trình STEM English hợp tác với các tổ chức nước ngoài và các khóa ngoại ngữ nâng cao thuộc Đề án Ngoại ngữ quốc gia. Ở phía chính sách, kế hoạch 2025–2035 đòi hỏi triển khai đồng bộ từ nâng năng lực giáo viên đến xây dựng môi trường tiếng Anh trong trường học. Hướng đi lý tưởng là kết nối các trường phổ thông kiểu Nguyễn Huệ, Trần Đại Nghĩa với các cơ sở sư phạm, để đào tạo giáo viên tiếng Anh và giáo viên các môn khác theo mô hình song ngữ từ gốc, thay vì “vá lỗi” bằng những lớp ngắn hạn.







