EPR không còn là khoản phí: Việt Nam buộc doanh nghiệp bước vào chuỗi tái chế
Trách nhiệm mở rộng nhà sản xuất (EPR) trong quản lý rác thải nhựa là cơ chế buộc doanh nghiệp chịu trách nhiệm đối với sản phẩm và bao bì của mình trong toàn bộ vòng đời, từ thiết kế, lựa chọn vật liệu, tiêu dùng đến thu gom, tái chế và xử lý sau sử dụng, qua đó chuyển hệ thống quản lý chất thải từ mô hình tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn dựa trên trách nhiệm trực tiếp thay vì nghĩa vụ tài chính hình thức. Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới trong quản lý chất thải nhựa, coi EPR là trục chuyển đổi mô hình phát triển chứ không chỉ là công cụ quản lý chất thải. Bộ quản lý môi trường và các đối tác phát triển đề xuất bỏ cơ chế đóng góp tài chính, thay bằng yêu cầu nhà sản xuất, nhà nhập khẩu trực tiếp tổ chức thu hồi, tái chế hoặc uỷ quyền cho đơn vị tái chế. Đây là bước đi mang tính tranh luận nhưng cần thiết nếu muốn thị trường tái chế nhựa Việt Nam phát triển thực chất.

Từ nghĩa vụ tài chính sang trách nhiệm thực chất: động lực hay rào cản?
Việc loại bỏ cơ chế đóng góp tài chính trong EPR là một tuyên bố chính trị rõ ràng: Nhà nước không chấp nhận một hệ thống quản lý rác thải nhựa dựa trên việc “nộp tiền cho xong” nữa. Hiện hơn 54% doanh nghiệp lựa chọn đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường để hoàn thành nghĩa vụ, trong khi tỷ lệ tự tổ chức tái chế còn thấp. Trên giấy tờ, chuyển sang trách nhiệm trực tiếp sẽ buộc doanh nghiệp thiết kế sản phẩm dễ tái chế hơn, đầu tư hạ tầng thu gom và tham gia thị trường tái chế. Nhưng thực tế, 42% doanh nghiệp thừa nhận hình thức không đóng phí là rất khó khả thi nếu không có hỗ trợ. Nếu nhà nước chỉ siết mà không thiết kế các cơ chế hỗ trợ, tiêu chuẩn rõ ràng và lộ trình đủ dài, EPR có nguy cơ trở thành gánh nặng tuân thủ hơn là động lực đổi mới.

NPAP: từ điều phối hoạt động sang tạo tác động trong chương trình nhựa
Trong NPAP chương trình nhựa, Việt Nam tuyên bố chuyển mạnh từ vai trò điều phối hoạt động sang tạo tác động hệ thống. Sau hơn 5 năm, NPAP đã trở thành nền tảng hợp tác đa bên, kết nối cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các đối tác phát triển xung quanh mục tiêu giảm ô nhiễm nhựa và phát triển kinh tế tuần hoàn. Nhưng để hỗ trợ cuộc cải cách EPR, NPAP phải tiến thêm một bước: trở thành nơi gắn các khoản đầu tư với giải pháp thu gom – tái chế cụ thể, có dữ liệu, giám sát và đo lường kết quả. Theo định hướng mới, NPAP sẽ xây dựng cơ chế huy động nguồn lực đa dạng và dài hạn, không chỉ tài trợ mà còn chuyên gia, công nghệ, dữ liệu và mạng lưới đối tác. Nếu làm được, NPAP sẽ là “hạ tầng thể chế” giúp doanh nghiệp đi từ tuân thủ sang đồng thiết kế thị trường tái chế nhựa Việt Nam.

Doanh nghiệp bước vào toàn bộ vòng đời nhựa: từ thiết kế đến thị trường tái chế
Thay đổi cách nhìn về EPR buộc doanh nghiệp không thể xem quản lý rác thải nhựa là việc “hậu trường” nữa. Cơ quan quản lý khẳng định trách nhiệm nhà sản xuất, nhập khẩu phải được xét trong toàn bộ vòng đời sản phẩm: thiết kế, sản xuất, thu gom, tái chế và xử lý sau sử dụng. Nhà nước muốn khu vực tư nhân không chỉ là đối tượng được tham vấn, mà là đối tác đồng đầu tư, cùng thiết kế chính sách, phát triển thị trường và triển khai giải pháp kinh tế tuần hoàn. Song song với việc siết trách nhiệm, dự thảo sửa đổi cũng cho phép chuyển tiếp nghĩa vụ tái chế đến 5 năm, hỗ trợ thiết lập điểm thu hồi qua hệ thống phân phối và nới một số điều kiện đầu tư cơ sở tái chế. Nếu doanh nghiệp chủ động nắm lấy không gian chính sách này, họ không chỉ giảm rủi ro tuân thủ, mà còn mở ra cơ hội kinh doanh trong thị trường tái chế đang hình thành.

Thách thức thực thi: dữ liệu, giám sát và khoảng cách giữa chiến lược – thực tế
Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu giảm tỷ lệ chôn lấp chất thải xuống dưới 30%, trong khi hiện nay con số vẫn khoảng 60% – một khoảng cách buộc hệ thống quản lý rác thải nhựa phải thay đổi cách vận hành. Lộ trình hành động quốc gia về nhựa giai đoạn 2026–2030 được đề xuất cập nhật, không chỉ dừng ở tài liệu kỹ thuật mà trở thành khung điều phối chương trình ưu tiên, huy động đầu tư và theo dõi kết quả. Song điều này đòi hỏi dữ liệu tin cậy và cơ chế giám sát. Các tổ chức thực hiện EPR dự kiến phải đáp ứng yêu cầu về năng lực tài chính, tổ chức thu gom và hệ thống quản lý dữ liệu, đồng thời chịu trách nhiệm xác nhận khối lượng tái chế, kê khai, báo cáo. Nếu không xây dựng được hạ tầng dữ liệu và giám sát độc lập, cải cách EPR rất dễ dừng ở khẩu hiệu, còn rác thải nhựa vẫn chảy ra sông, biển bất chấp những sơ đồ chiến lược đẹp trên giấy.







