Công nghệ lõi chỉ có giá trị khi đi vào sản xuất
Làm chủ công nghệ lõi là năng lực tự nghiên cứu, phát triển, kiểm soát và cải tiến những quy trình then chốt để tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu thực tế, thay vì lệ thuộc hoàn toàn vào giải pháp nhập khẩu. Đó không phải khẩu hiệu về tự lực, mà là nền tảng giúp tri thức khoa học trở thành sức sản xuất.
Bài học từ nhiên liệu đặc chủng cho thấy con đường này có thể bắt đầu bằng việc giải quyết một điểm nghẽn cụ thể. Năm 2012, BSR phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và đối tác nghiên cứu Liên bang Nga triển khai công trình phát triển công nghệ sản xuất nhiên liệu tại Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Thay vì xây dựng dây chuyền hoàn toàn mới, nhóm nghiên cứu tối ưu hạ tầng vốn phục vụ nhiên liệu dân dụng, rồi phát triển Jet A-1K và điêzen DO L-62. Hai sản phẩm được phía Nga đánh giá, cấp phép năm 2014 và được Bộ Quốc phòng chấp thuận sử dụng năm 2023.
Từ năm 2022 đến 2025, nhà máy cung ứng 235.000 m³ nhiên liệu đặc chủng; sản xuất trong nước giúp tiết kiệm khoảng 15-20% chi phí so với nhập khẩu, tương đương 610-810 tỷ đồng. Ý nghĩa rộng hơn của kết quả ấy là giảm rủi ro nguồn cung và tạo năng lực cải tiến ngay trong nước. Tự chủ công nghệ vì vậy cần được đo bằng sản phẩm đã qua thử nghiệm, được chấp nhận và sử dụng, không chỉ bằng số đề tài hoàn thành.

Viện và doanh nghiệp phải cùng chịu trách nhiệm về kết quả
Trong công nghiệp năng lượng, khoảng cách từ kết quả phòng thí nghiệm đến ứng dụng thương mại đặc biệt lớn: bài toán đòi hỏi vốn, thời gian nghiên cứu dài và thử nghiệm trong điều kiện vận hành thật. Vì thế, liên kết giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp không nên dừng ở trao đổi chuyên môn hay ký kết hợp tác. Hai bên cần cùng xác định nhu cầu, thiết kế thử nghiệm, đánh giá kết quả và chuẩn bị đường đưa sản phẩm vào sử dụng.
Một ví dụ là việc Viện Dầu khí Việt Nam phối hợp với Liên doanh Vietsovpetro nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm hóa phẩm tăng cường thu hồi dầu VPI SP tại mỏ Bạch Hổ. Viện nghiên cứu công thức phù hợp điều kiện mỏ; doanh nghiệp tổ chức bơm ép thử nghiệm 100 tấn tại giếng 1609, giàn BK-16. Sau sáu tháng, sản lượng dầu tăng khoảng 2.700 tấn, mở ra khả năng áp dụng ở các mỏ khác.
Kết quả ấy minh họa vì sao nghiên cứu và sản xuất cần gắn thành một chuỗi trách nhiệm. Viện có năng lực chuyên sâu nhưng không thể tự thay thế môi trường vận hành; doanh nghiệp nắm bài toán và dữ liệu thực tế nhưng cần tri thức nghiên cứu để phát triển giải pháp. Khi thử nghiệm được thiết kế cùng đơn vị sử dụng, khả năng chuyển giao tăng lên và rủi ro phát triển sản phẩm không có đầu ra giảm xuống.

An ninh năng lượng đòi hỏi năng lực trong nước
Bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng cùng đặt ra yêu cầu phát triển công nghệ trong nước. Nguồn cung bên ngoài có thể biến động, còn các mục tiêu giảm phát thải buộc ngành năng lượng tìm thêm vật liệu, thiết bị và phương thức vận hành mới. Nếu thiếu năng lực tự nghiên cứu và điều chỉnh giải pháp theo điều kiện trong nước, phụ thuộc nhập khẩu sẽ không chỉ là vấn đề chi phí mà còn hạn chế khả năng lựa chọn hướng phát triển.
Viện Dầu khí Việt Nam định hướng nghiên cứu từ thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí đến vật liệu mới, năng lượng mới và công nghệ số; đồng thời tập trung vào công nghệ nền tảng, công nghệ lõi và sản phẩm chiến lược. Đây là hướng đi đáng ủng hộ, nhưng ưu tiên không thể chỉ nằm trên danh mục nghiên cứu. Công nghệ phải được gắn với nhu cầu sản xuất, có đơn vị tiếp nhận và được kiểm chứng qua vận hành.
Thời gian tới, viện ưu tiên nâng hiệu quả tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; phát triển hóa phẩm, vật liệu, thiết bị trong nước; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, bản sao số và dữ liệu; đồng thời nghiên cứu công nghệ phục vụ chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải. Hợp tác sâu hơn với doanh nghiệp và trường đại học sẽ có ý nghĩa khi tạo ra sản phẩm có địa chỉ ứng dụng rõ ràng, thay vì kết thúc ở một kết quả nghiên cứu khó triển khai.
Đầu tư vào năng lực hấp thụ, không chỉ vào đề tài
Bằng chứng từ các công trình trong nước cho thấy doanh nghiệp có thể tiếp nhận tri thức, cải tiến công nghệ và tạo ra giá trị sản xuất khi bài toán nghiên cứu được đặt đúng chỗ. Nhưng để những kết quả như nhiên liệu đặc chủng hay hóa phẩm khai thác dầu không trở thành trường hợp riêng lẻ, cần đầu tư dài hạn cho thử nghiệm, đội ngũ kỹ thuật và cơ chế hợp tác đủ linh hoạt. Đây là phần hạ tầng ít nhìn thấy nhưng quyết định nghiên cứu có đi đến dây chuyền hay không.
Doanh nghiệp cần tham gia từ đầu và chia sẻ dữ liệu vận hành; viện cần được đánh giá cả bằng khả năng chuyển giao, không chỉ bằng công bố hay sản phẩm nghiên cứu; còn cơ chế tài trợ nên tính đến thời gian kiểm chứng của ngành năng lượng. Tự chủ công nghệ không đồng nghĩa tự làm mọi thứ. Hợp tác quốc tế vẫn có thể hỗ trợ, miễn là năng lực thiết kế, làm chủ quy trình và cải tiến được tích lũy trong nước.
Cầu nối từ nghiên cứu đến sản xuất vì thế không phải một hợp đồng chuyển giao đơn lẻ, mà là quan hệ liên tục giữa nhu cầu, nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng. Khi công nghệ lõi tạo ra sản phẩm hữu ích, được doanh nghiệp sử dụng và có thể tiếp tục cải tiến, tri thức mới trở thành năng lực cạnh tranh và nền tảng cho an ninh năng lượng. Đó mới là thước đo thuyết phục của tự chủ công nghệ.






