Công nghệ chiến lược Việt Nam: từ tham vọng tự chủ đến yêu cầu đổi cơ chế
Công nghệ chiến lược Việt Nam là nhóm công nghệ lõi và sản phẩm có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, bảo đảm tự chủ quốc gia và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, được Nhà nước ưu tiên đầu tư hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường, kiểm định và thương mại hóa ở cấp độ trung tâm nghiên cứu quốc gia và phòng thí nghiệm trọng điểm. Câu chuyện quan trọng nhất không phải là có thêm vài phòng thí nghiệm hiện đại, mà là Việt Nam đang cố tình “đổi luật chơi” của hệ sinh thái khoa học – công nghệ: nghiên cứu phải ra sản phẩm, và sản phẩm phải ra thị trường. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định 1483/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tập trung cho công nghệ chiến lược. Ngay sau đó, Thủ tướng ban hành Quyết định 1493/QĐ-TTg về Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, đặt ra cách tiếp cận mới: Nhà nước đặt bài toán, viện trường làm công nghệ lõi, doanh nghiệp làm sản phẩm. Hai văn bản này, cộng với cơ chế tài chính mới, cho thấy mục tiêu làm chủ công nghệ lõi đến 2030 không chỉ là khẩu hiệu, mà là một chiến lược được thiết kế khá bài bản.

Hạ tầng trung tâm nghiên cứu quốc gia: quyền lực mới của phòng thí nghiệm
Đề án về hệ thống trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là nỗ lực đặt nền móng hạ tầng cho công nghệ chiến lược Việt Nam. Thay vì để mỗi đơn vị tự đầu tư manh mún, Nhà nước hướng tới mạng lưới hạ tầng hiện đại, đồng bộ, kết nối và khai thác dùng chung trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và sản phẩm công nghệ chiến lược. Mục tiêu đến năm 2030 là vận hành tối thiểu 08 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực từ công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, sinh học, y sinh, năng lượng, vật liệu tiên tiến, an ninh mạng, lượng tử, đến biển, đại dương, lòng đất, hàng không và vũ trụ, cùng tối thiểu 04 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia cho thiết bị bay không người lái, sinh học, vật liệu, đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Đây là bước nâng cấp đáng kể so với hiện trạng phân tán, tạo “sân chơi chung” cho viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Tham vọng không dừng ở 2030: giai đoạn đến 2035, mục tiêu là hình thành hệ thống trung tâm và phòng thí nghiệm kết nối với mạng lưới hạ tầng nghiên cứu tiên tiến khu vực, có một số đơn vị đạt trình độ hàng đầu về công nghệ chiến lược. Nếu làm được, hạ tầng nghiên cứu sẽ trở thành tài sản chiến lược, thay vì chỉ là những phòng lab đóng kín trong khuôn viên trường.

Làm chủ công nghệ lõi: Nhà nước rót vốn 100% nhưng đổi lại là trách nhiệm
Điểm táo bạo nhất của chiến lược này nằm ở cách đối xử với nhiệm vụ công nghệ chiến lược và công nghệ lõi. Thông tư 49/2026/TT-BKHCN quy định ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí đối với nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng; các nhiệm vụ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho tự chủ công nghệ, quốc phòng, an ninh, cũng như nhiệm vụ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nói thẳng, Nhà nước chấp nhận gánh phần rủi ro lớn nhất để các nhóm nghiên cứu dám đi vào vùng công nghệ khó. Song song, Đề án đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi để phục vụ trực tiếp sản phẩm công nghệ chiến lược và giải quyết bài toán lớn của quốc gia. Để bảo đảm tiền ngân sách không bị “chết” trong các báo cáo, cơ chế lập dự toán mới yêu cầu chia theo gói công việc gắn với mục tiêu, sản phẩm đầu ra và mốc đánh giá, từ nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất nguyên mẫu, thử nghiệm đến chuyển giao, thương mại hóa. Quy mô tham vọng còn thể hiện ở mục tiêu tăng trưởng trung bình tối thiểu 18% mỗi năm về số đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ cho công nghệ lõi, công nghệ chiến lược kể từ năm thứ ba vận hành hệ thống. Đây là thước đo cứng, buộc các trung tâm nghiên cứu quốc gia phải “ra sáng chế” chứ không thể chỉ hoạt động hình thức.

Cơ chế mới “Nhà nước đặt bài toán – doanh nghiệp làm chủ”: bước nhảy khỏi mô hình viện đóng
Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược mở ra một cách tiếp cận mà lâu nay Việt Nam luôn thiếu: Nhà nước đặt bài toán, viện trường phát triển công nghệ lõi, doanh nghiệp làm chủ sản phẩm và thị trường kiểm chứng. Đây là bước rời khỏi mô hình viện nghiên cứu đóng kín, tự nghĩ đề tài, tự nghiệm thu, ít gắn với nhu cầu thị trường. Theo thiết kế, Nhà nước sẽ định hướng, đặt hàng, hỗ trợ thử nghiệm và tạo thị trường đầu ra; doanh nghiệp chủ trì phát triển sản phẩm, triển khai ứng dụng và thương mại hóa; viện nghiên cứu, trường đại học tập trung vào làm chủ công nghệ lõi, đào tạo nhân lực, chuyển giao kết quả nghiên cứu và sáng chế. Giai đoạn 2026–2030, Chương trình đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược trong Danh mục do Thủ tướng ban hành, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, với ít nhất 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế và tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%. Đây là mô hình co-creation thực chất: nếu doanh nghiệp không tham gia từ sớm, công nghệ sẽ khó chuyển thành sản phẩm; nếu Nhà nước không đặt bài toán rõ ràng, viện trường sẽ tiếp tục làm đề tài mà không cần biết ai dùng. Chỉ khi ba trụ cột cùng chịu trách nhiệm, khái niệm công nghệ chiến lược mới có cơ hội đi khỏi văn bản.

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu: đo thành công bằng doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ
Nếu phải chọn một thước đo để xem chiến lược làm chủ công nghệ lõi có đi đúng hướng, đó là số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ sinh ra từ kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ. Đề án đặt mục tiêu thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ của các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, hình thành ít nhất 10 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoặc doanh nghiệp khoa học và công nghệ có khả năng phát triển, làm chủ và thương mại hóa công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược. Ở cấp độ rộng hơn, Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu đến 2030 phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược từ việc chủ trì hoặc tham gia nhiệm vụ, trong đó ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Giai đoạn 2031–2035, con số này nâng lên tối thiểu 30 doanh nghiệp, với ít nhất 10 doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu và 25 sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển, thương mại hóa. Tham vọng là rõ ràng: thương mại hóa kết quả nghiên cứu không còn là “phụ lục” của một báo cáo khoa học, mà trở thành đích đến bắt buộc. Nếu các trung tâm nghiên cứu quốc gia không sinh ra được doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, chiến lược công nghệ chiến lược Việt Nam sẽ phải đối mặt với câu hỏi khó về hiệu quả thực sự.







