Giáo dục vùng khó khăn: không chỉ là chuyện xây thêm phòng học
Giáo dục vùng khó khăn là toàn bộ những nỗ lực đầu tư trường học miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo nhằm bảo đảm dân tộc thiểu số giáo dục được tiếp cận cơ hội học tập ngang với học sinh vùng thuận lợi, từ cơ sở vật chất trường học, đội ngũ giáo viên đến chính sách hỗ trợ đời sống hàng ngày.
Điểm đáng mừng là một loạt địa phương không chờ đợi mà đang chủ động “bơm” nguồn lực lên vùng cao, coi bình đẳng học tập là tiêu chí then chốt trong năm học 2026-2027. Tại Khánh Hòa, Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS và THPT Pi Năng Tắc được khánh thành đúng ngày khai giảng, sau một năm xây dựng, để phục vụ việc học tập và sinh hoạt nội trú của học sinh dân tộc thiểu số miền núi. Hình ảnh Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cắt băng khánh thành gửi một thông điệp rõ ràng: giáo dục vùng khó khăn không còn là phần “phụ lục” trong câu chuyện phát triển, mà là ưu tiên chính trị và ngân sách cụ thể.
Khi trường nội trú miền núi trở thành “ngôi nhà thứ hai”
Không thể nói về thu hẹp khoảng cách giáo dục nếu bỏ qua chất lượng cơ sở vật chất trường học – nơi quyết định học sinh vùng cao học trong điều kiện nào. Pi Năng Tắc giờ không còn là ngôi trường cũ xuống cấp gần 30 năm mà là một khuôn viên 3,8 ha với 18 phòng học, 60 phòng ở và nhà thi đấu đa năng, đáp ứng nhu cầu cho gần 480 học sinh dân tộc thiểu số khu vực phía Tây Nam Khánh Hòa. Đây là một minh chứng sống động rằng đầu tư hạ tầng không phải khẩu hiệu mà được đo bằng số phòng học, số giường ngủ, mét vuông sân chơi.
Ở phía Bắc, trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Bình Liêu, tại xã miền núi biên giới, mở cửa đón hơn 650 học sinh – phần lớn là con em người Tày, Dao, Sán Chỉ. Với nhiều em, đây là năm đầu tiên được ở nội trú, thay vì ngày ngày đi bộ nhiều cây số tới lớp. Khi một đứa trẻ không phải băng rừng, lội suối mới đến được lớp, chúng ta mới có quyền nói đến bình đẳng học tập ở mức tối thiểu.
Trường Bình Liêu được đầu tư bổ sung đồng bộ phòng học, phòng bộ môn, khu nội trú, nhà ăn, thư viện, nhà đa năng, sân thể thao và bể bơi với tổng mức đầu tư khoảng 40 tỉ đồng. Học sinh mô tả sự thay đổi rất cụ thể: thêm phòng học bộ môn, sân bóng, bể bơi; phòng ở sạch sẽ, bữa ăn được chuẩn bị chu đáo. Đó không phải sự “xa xỉ” mà là điều kiện tối thiểu nếu ta nghiêm túc với mục tiêu đào tạo con em vùng dân tộc thiểu số ngang bằng bạn bè miền xuôi.

Chính sách đi thẳng vào bữa ăn, cuốn sách và quãng đường đến lớp
Xây trường là bước khởi đầu, nhưng để giữ học sinh không bỏ học, chính sách phải đi vào từng bữa ăn, cuốn sách, chuyến xe. Tại Quảng Ninh, hệ thống chính sách giáo dục đặc thù hiện phục vụ khoảng 539.000 lượt người học và nhà giáo mỗi năm, với tổng kinh phí gần 800 tỉ đồng. Một phần đáng kể trong đó hướng tới học sinh vùng khó, học sinh dân tộc thiểu số – nơi nguy cơ bỏ học luôn thường trực.
Ông Vi Tiến Vượng, Chủ tịch UBND xã Lục Hồn, nhận xét chính sách hỗ trợ ăn, ở tập trung và đưa đón đã giúp học sinh ở các thôn, bản xa đến trường an toàn, ổn định hơn, đồng thời giảm chi phí và thời gian đi lại cho gia đình, góp phần duy trì sĩ số và hạn chế bỏ học. Theo các quy định hiện hành, học sinh ăn, ở tập trung được hỗ trợ 936.000 đồng/người/tháng; nơi không đủ điều kiện tổ chức nội trú thì hỗ trợ đưa đón từ 510.000–730.000 đồng/người/tháng, tùy cấp học. Giáo viên, nhân viên trực tiếp đưa đón cũng được hỗ trợ 2,34 triệu đồng/tháng/15 học sinh.
Không chỉ tiền ăn, học sinh phổ thông và học viên giáo dục thường xuyên được cấp miễn phí sách giáo khoa theo hình thức trang bị tại trường để mượn dùng trong năm học; chính sách này dự kiến phục vụ hơn 290.000 người học với kinh phí khoảng 147 tỉ đồng. Cùng với đó là sữa tươi miễn phí cho toàn bộ trẻ mầm non và học sinh tiểu học với hơn 290 tỉ đồng/năm. Khi một đứa trẻ vùng cao có bữa ăn đủ chất, ly sữa và cuốn sách không phải nỗi lo, mới có thể nói đến giáo dục vùng khó khăn theo nghĩa thực chất, không phải phong trào.
Nghị quyết 71 và mục tiêu thu hẹp khoảng cách trong năm học 2026-2027
Điểm chung của những thay đổi ở Khánh Hòa và Quảng Ninh là chúng không xuất hiện trong khoảng trống chính sách. Hai địa phương đang hiện thực hóa Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tại Khánh Hòa, năm học 2026-2027 được xem là năm đầu tiên triển khai sắp xếp, quy hoạch lại mô hình trường lớp, với hơn 462.000 học sinh học tại 318 cơ sở giáo dục các loại hình và đội ngũ 32.148 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên. Đây là quy mô đủ lớn để mọi quyết định về phân bổ nguồn lực ở vùng khó khăn tạo ra chênh lệch thấy ngay trong vài năm tới.
Quảng Ninh thì đặt mục tiêu năm học 2026-2027 phải là “minh chứng rõ nét bằng chất lượng thực chất”: công bằng trong tiếp cận giáo dục, ưu tiên học sinh vùng khó, miền núi, biên giới, biển đảo; đồng thời nâng chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn, đào tạo toàn diện Đức – Trí – Thể – Mỹ. Nghị quyết 93/2025/NQ-HĐND được thiết kế để hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi, xã đảo có nhà xa trường hoặc phải đi qua địa hình khó khăn, áp dụng từ năm học 2025-2026 đến 2030-2031. Mục tiêu quan trọng hơn mọi con số, theo cơ quan giáo dục địa phương, là không để bất kỳ lý do kinh tế hay địa lý nào buộc một đứa trẻ phải dừng con đường học tập.
Đáng chú ý, ở cả miền núi và biển đảo, như đặc khu Trường Sa, công tác giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của địa phương. Điều đó cho thấy bình đẳng học tập đang dần được hiểu đúng: không phải ai cũng học giống nhau, mà là mọi học sinh – dù ở đảo xa hay bản cao – đều có đủ điều kiện để phát triển năng lực của mình.
Lời kết: thu hẹp khoảng cách hay chấp nhận “vùng trũng” vĩnh viễn?
Nhìn vào những con số về kinh phí, phòng học, ký túc xá, sữa học đường, ta có thể nói một cách thẳng thắn: Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới của giáo dục vùng khó khăn, nơi đầu tư không còn nhỏ giọt mà mang tính chiến lược và dài hạn. Nhưng khoảng cách giữa vùng thuận lợi và vùng khó vẫn chưa khép lại; chính quyền Quảng Ninh thừa nhận việc kéo gần khoảng cách giáo dục vẫn là bài toán phải kiên trì giải quyết.
Câu hỏi đặt ra cho năm học 2026-2027 không phải “đã làm gì”, mà là “sẵn sàng đi xa tới đâu” với giáo dục vùng khó: tiếp tục ưu tiên ngân sách cho cơ sở vật chất trường học, mở rộng các chính sách hỗ trợ đến tận hộ gia đình vùng cao, lắng nghe tiếng nói của phụ huynh và học sinh – những người từng phải cho con nghỉ học để đi làm phụ giúp gia đình. Nếu coi con em dân tộc thiểu số là một phần bình đẳng của lực lượng lao động tương lai, thì chấp nhận “vùng trũng giáo dục” đồng nghĩa với chấp nhận một tương lai phát triển méo mó. Ngược lại, kiên trì đầu tư cho trường học miền núi và chính sách đi kèm chính là cách đầu tư rẻ nhất cho một xã hội ổn định, sáng tạo và ít bất bình đẳng hơn.






