Từ nghiên cứu đến thị trường phải là một chuỗi liền mạch
Liên kết ba nhà là cách Nhà nước, viện trường và doanh nghiệp phối hợp từ lúc xác định nhu cầu công nghệ đến nghiên cứu, thử nghiệm và đưa sản phẩm vào sử dụng. Đây không nên là nghi thức ký kết, mà là một chuỗi trách nhiệm chung, trong đó doanh nghiệp nêu bài toán, nhà khoa học phát triển giải pháp và Nhà nước tháo gỡ rào cản.
Lý do phải thay đổi cách làm đã hiện rõ: giai đoạn 2021–2025, cả nước triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ nghiên cứu với tổng kinh phí khoảng 17.000 tỷ đồng, nhưng doanh nghiệp chỉ chủ trì 181 trong 1.451 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, tương đương 12,5% số nhiệm vụ. Quy mô đầu tư nghiên cứu không tự động tạo ra sản phẩm; nếu đề tài bắt đầu từ điều nhà nghiên cứu có thể làm thay vì điều nhà máy cần giải quyết, kết quả dễ mắc kẹt trong phòng thí nghiệm.
Vai trò cần phân định rõ: Nhà nước định hướng, xác định nhu cầu và đặt hàng đầu ra; viện, trường phát triển công nghệ nền, công nghệ lõi và đào tạo nhân lực; doanh nghiệp thiết kế, tích hợp, hoàn thiện sản phẩm và tổ chức ứng dụng. Cách phân công ấy biến thương mại hóa nghiên cứu thành mục tiêu ngay từ đầu, thay vì phần việc bị đẩy sang sau khi dự án kết thúc.

Khoảng cách lớn nhất nằm ở bài toán và năng lực tiếp nhận
Nguồn nghiên cứu và nhu cầu sản xuất thường gặp nhau quá muộn. Một đề tài có thể đạt kết quả khoa học nhưng vẫn lệch yêu cầu về năng suất, độ bền, chi phí vận hành hoặc quy chuẩn của doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp đổi mới công nghệ có thể chưa biết nơi nào sở hữu giải pháp phù hợp, hoặc thiếu đội ngũ để đánh giá, thử nghiệm và tiếp nhận công nghệ.
Kết nối vì thế không thể dừng ở biên bản ghi nhớ hay cuộc gặp giữa lãnh đạo. Bộ phận sản xuất, kỹ thuật và kinh doanh cần cùng nhà khoa học xác định vấn đề, tiêu chuẩn, điều kiện thử nghiệm và thị trường dự kiến. Cũng cần nối hai nhóm doanh nghiệp: bên nghiên cứu, cung cấp công nghệ và bên có nhu cầu sử dụng; thiếu một trong hai, giải pháp khó thành sản phẩm có người mua.
Những ví dụ đã ứng dụng cho thấy lợi ích thực tế có thể đo được: hợp tác giữa Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ và tăng 5,09% tốc độ máy xeo. Đó là loại kết quả doanh nghiệp cần nhìn thấy: hiệu quả vận hành cụ thể, không chỉ một báo cáo nghiệm thu.
Thử nghiệm thành công chưa đồng nghĩa có sản phẩm bán được
Khoảng trống giữa nguyên mẫu và sản phẩm thương mại là nơi nhiều dự án hụt hơi. Thiết bị Mini-ROV do Viện Dầu khí Việt Nam phối hợp với Vietsovpetro và Đại học Bách khoa Hà Nội phát triển đã được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, bể thử và ngoài khơi, nhưng vẫn cần hoàn thiện độ tin cậy, tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo trì và mô hình cung ứng dịch vụ. Một công nghệ có triển vọng chưa đủ để thuyết phục khách hàng nếu chưa chứng minh được khả năng vận hành lâu dài.
Rào cản đầu tư cũng gắn chặt với đầu ra: doanh nghiệp khó tiếp tục bỏ vốn nếu chưa có đơn vị đặt hàng hoặc thị trường tiếp nhận. Thêm vào đó là những câu hỏi thường bị để muộn: ai sở hữu kết quả, định giá ra sao, chuyển giao thế nào và lợi ích được chia theo nguyên tắc nào. Nếu không thống nhất sớm, cả viện trường lẫn doanh nghiệp đều có lý do để dè dặt.
Cần đánh giá theo các mốc kiểm chứng để quyết định tiếp tục hoàn thiện, mở rộng thử nghiệm hay điều chỉnh hướng nghiên cứu. Mô hình này đã tạo kết quả đo được trong khai thác dầu: Vietsovpetro thử nghiệm bơm ép 100 tấn hóa phẩm VPI SP tại mỏ Bạch Hổ; sau sáu tháng, lượng dầu gia tăng đạt khoảng 2.700 tấn. Giá trị nằm ở việc thử nghiệm gắn với điều kiện sản xuất và có bên chịu trách nhiệm theo dõi.

Đặt hàng, đồng tài trợ và bảo đảm nơi tiếp nhận
Hướng đi khả thi là đặt bài toán ứng dụng trước khi cấp vốn nghiên cứu: doanh nghiệp nêu nhu cầu và yêu cầu kỹ thuật; viện, trường xây dựng giải pháp cùng lộ trình kiểm chứng; Nhà nước hỗ trợ nguồn lực theo mục tiêu đầu ra. Tài trợ theo chuỗi, từ nghiên cứu ứng dụng qua sản xuất thử nghiệm đến thương mại hóa, giúp tránh cảnh mỗi giai đoạn kết thúc mà chưa có nguồn lực cho bước kế tiếp.
Các cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp nên ưu tiên nhiệm vụ có địa chỉ ứng dụng, tiêu chuẩn rõ và cam kết tiếp nhận. Voucher có thể giúp doanh nghiệp thử công nghệ trong nước trước khi quyết định đầu tư; cấp kinh phí theo gói cũng có thể tạo không gian cho viện trường phát triển năng lực nghiên cứu gắn với nhu cầu thực. Cùng với đó, cần có đầu mối chuyển giao chuyên nghiệp và quy tắc rõ về sở hữu trí tuệ, định giá, chia sẻ lợi ích.
Một số mô hình cho thấy chuỗi phối hợp này có thể vận hành: giai đoạn 2021–2025 và sáu tháng đầu năm 2026, Đại học Huế thực hiện 47 hợp đồng chuyển giao công nghệ, tư vấn và dịch vụ, với tổng doanh thu hơn 6 tỷ đồng. Năm 2026, ba nhiệm vụ giữa Viettel và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội được bàn giao, ứng dụng trong các hệ thống của tập đoàn. Đây không phải bằng chứng mọi dự án đều thành công, nhưng là lời nhắc rằng ứng dụng khoa học cần khách hàng, thử nghiệm thực tế và trách nhiệm xuyên suốt.
Kết luận, muốn nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm thì phải đưa thị trường vào ngay từ khi đặt đề bài. Liên kết ba nhà chỉ có sức nặng khi doanh nghiệp có nhu cầu thật và cam kết tiếp nhận, viện trường đồng hành đến lúc công nghệ dùng được, còn Nhà nước gắn hỗ trợ với kết quả và chia sẻ rủi ro. Nếu thiếu đầu ra và cơ chế rõ ràng, thêm đề tài hay thêm cuộc họp cũng không đủ.







