Đào tạo nghề phải bắt đầu từ việc làm thực tế
Đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường là cách tổ chức chương trình dựa trên kỹ năng và nhân lực mà nhà tuyển dụng cần, để người học có thể chuyển kiến thức thành năng lực làm việc ngay sau khi tốt nghiệp. Tại Cà Mau, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang đổi mới tư duy, xây dựng chiến lược linh hoạt để theo kịp sự chuyển dịch của thị trường lao động. Đây là thay đổi đúng hướng: trường nghề không thể chỉ mở lớp theo thế mạnh sẵn có rồi trông chờ việc làm tự đến với học viên. Tỉnh hiện có 2 cơ sở giáo dục đại học và 13 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 2 cơ sở công lập. Quy mô ấy đòi hỏi chương trình phải phản ánh rõ hơn nhu cầu lao động của địa phương. Khi doanh nghiệp tham gia xác định kỹ năng cần thiết, người học có cơ hội tốt hơn để chọn ngành phù hợp và tránh khoảng cách giữa bằng cấp với công việc thực tế.

Tăng thời lượng thực hành, đưa doanh nghiệp vào lớp học
Mô hình 30/70, dành 30% thời lượng cho lý thuyết nền tảng và 70% cho thực hành, thí nghiệm, làm việc tại xưởng hoặc thực tập ở doanh nghiệp, cho thấy một lựa chọn thực tế để rút ngắn quãng đường từ trường đến việc làm. Giá trị của mô hình không nằm ở tỷ lệ trên giấy mà ở việc người học được luyện kỹ năng trong môi trường gần với công việc thật, đồng thời hình thành tác phong nghề nghiệp. Tại Trường Cao đẳng Cà Mau, nhà trường chuyển từ tư duy “cung cấp những gì trường có” sang “đào tạo những gì thị trường cần”. Học kỳ doanh nghiệp dành 40%–50% thời lượng thực hành tại nhà máy, trang trại; doanh nghiệp còn tham gia thẩm định giáo trình, đứng lớp và đánh giá kỹ năng. Cách làm này giúp chương trình bám sát việc làm hơn, thay vì để người mới tốt nghiệp phải học lại phần cốt yếu.

Công nghệ mở thêm hướng, nhưng còn điểm nghẽn
Đào tạo nghề trong thời đại số không thể dừng ở thao tác máy móc; người học cần tư duy công nghệ và khả năng thích ứng khi quy trình sản xuất thay đổi. Tuy nhiên, tại Cà Mau, chuyển đổi số mới được triển khai bước đầu, dữ liệu và nền tảng dùng chung chưa đồng bộ; chương trình còn chậm cập nhật công nghệ mới, trong khi giảng viên trình độ cao còn thiếu. Đây là những điểm nghẽn trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Các đề xuất gồm xây dựng học liệu số, kết nối với các trường lớn, ứng dụng mô phỏng VR/AR và dùng trí tuệ nhân tạo để đánh giá năng lực, phân tích dữ liệu, dự báo xu hướng nghề nghiệp. Những công cụ này chỉ hữu ích khi gắn với kỹ năng mà doanh nghiệp thực sự cần. Chuyển đổi số vì thế không nên là mục tiêu riêng, mà phải hỗ trợ nhà trường điều chỉnh chương trình nhanh và có căn cứ.

Muốn đào tạo đúng, cần chính sách đồng hành
Kết quả việc làm là phép thử quan trọng đối với chương trình nghề. Tại Phân hiệu Trường Đại học Bình Dương ở Cà Mau, hơn 90% sinh viên có việc làm ngay sau khi ra trường; nguồn thông tin gắn kết quả này với mạng lưới doanh nghiệp và các ngày hội việc làm. Con số đó cho thấy liên kết tuyển dụng có thể tạo khác biệt, dù không thể thay thế việc theo dõi chất lượng và mức độ phù hợp của công việc. Để duy trì hướng đi, TS Phan Văn Đàn kiến nghị tỉnh hỗ trợ học phí, học bổng cho người học các ngành địa phương thiếu nhân lực và đặt hàng đào tạo cho lĩnh vực kinh tế trọng điểm. Các đề xuất khác gồm đãi ngộ giảng viên trình độ cao, tạo ưu đãi thuế và tài chính để doanh nghiệp tham gia đào tạo, đầu tư xưởng chế biến thủy sản mô phỏng và phòng thí nghiệm nuôi tôm công nghệ cao. Nhà trường có thể đổi mới chương trình, nhưng chính sách và doanh nghiệp phải cùng tạo điều kiện để người học có kỹ năng đúng chỗ.







