0,1% GDP là định hướng đầu tư, không phải khoản ngân sách tách riêng
Đầu tư nhân tài là việc bố trí nguồn lực công và huy động các bên cùng phát hiện, đào tạo, thu hút, trọng dụng người có năng lực trong những ngành, lĩnh vực ưu tiên. Nghị quyết 336/NQ-CP định hướng dành khoảng 0,1% GDP hằng năm cho công tác này trong tổng nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ngày 23/10/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký nghị quyết ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, triển khai Kết luận 105-KL/TW về thu hút và trọng dụng nhân tài ở các lĩnh vực mũi nhọn. Con số 0,1% vì thế nên được hiểu là định hướng ngân sách trong một tổng thể rộng hơn, không phải một quỹ độc lập đã được phân bổ sẵn cho từng cơ quan hay cá nhân. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày ký; mức chi thực hiện vẫn phải tuân thủ pháp luật ngân sách và khả năng cân đối hằng năm.
Chương trình cụ thể hóa Kết luận 105-KL/TW và Chương trình hành động 48-CTr/TW của Bộ Chính trị thành nhiệm vụ, đầu ra, trách nhiệm và thời hạn. Đây là bước chuyển cần thiết: đặt một tỷ lệ ngân sách lên bàn mới chỉ là lời hứa về quy mô; hiệu quả phụ thuộc vào việc tiền được gắn với nhu cầu và kết quả nào.

Chính phủ đặt hướng chung, địa phương tự chủ có quyền chi cao hơn
Điểm giống nhau là cả ngân sách trung ương lẫn địa phương đều phải bố trí nguồn lực cho công tác nhân tài trong khuôn khổ ngân sách và tổng nguồn dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Điểm khác nằm ở mức độ linh hoạt: Chính phủ đưa ra định hướng khoảng 0,1% GDP mỗi năm, còn địa phương tự chủ ngân sách được quyết định mức chi cao hơn.
Quyền chi cao hơn không đồng nghĩa mọi địa phương phải vượt mốc định hướng, cũng không tạo ra một mức chi đồng nhất trên toàn quốc. Cách tiếp cận này có lý: nơi có nguồn lực và nhu cầu nhân lực đặc thù có thể chủ động hơn, thay vì bị bó cứng bởi một trần chung. Nhưng quyền tự quyết chỉ thuyết phục khi đi kèm kế hoạch rõ về lĩnh vực cần người, cách tuyển chọn và trách nhiệm giải trình.
Nguồn lực cũng không chỉ trông vào ngân sách nhà nước. Chương trình khuyến khích doanh nghiệp tham gia phát hiện, tiến cử, thu hút và phát triển nhân tài; đồng thời đầu tư hoặc đồng tài trợ cho đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo ở lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và công nghệ mới. Đây là hướng mở rộng nguồn lực hợp lý, miễn là vai trò của từng bên được xác định minh bạch.

Từ ngân sách khoa học đến nhiệm vụ và kết quả cụ thể
Nghị quyết giao Bộ Tài chính xây dựng cơ chế tài chính đặc thù, còn các bộ, cơ quan và địa phương được định hướng phân bổ theo hình thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, khoán chi hoặc tài trợ dựa trên nhiệm vụ, sản phẩm và kết quả. Đây là lựa chọn đáng chú ý: ngân sách khoa học dành cho nhân tài nên theo đuổi công việc cần hoàn thành, thay vì chỉ cấp theo đầu vào hay danh xưng.
Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ xác định, cập nhật các ngành mũi nhọn, nhiệm vụ chiến lược, dự án trọng điểm và bài toán lớn cần thu hút người tài; đồng thời phát triển nền tảng số để tìm kiếm, kết nối, dự báo nhu cầu và điều phối nhân lực. Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao xây dựng chương trình “Nhân tài dẫn dắt nhân tài”, thúc đẩy cố vấn giữa chuyên gia đầu ngành và nhân tài trẻ, bên cạnh việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng theo từng nhóm.
Để cơ chế này không dừng ở khẩu hiệu, quyền tự chủ phải đi cùng kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình. Các bộ, cơ quan ngang bộ cùng UBND tỉnh, thành phố phải báo cáo kết quả thực hiện cho Bộ Nội vụ trước ngày 15/11 hằng năm. Mốc báo cáo tạo nhịp đánh giá, nhưng điều đáng theo dõi là báo cáo có cho thấy nguồn lực đã tạo ra sản phẩm và đóng góp thực chất hay không.

Thước đo cuối cùng là khả năng thu hút và phát huy nhân tài
Tỷ lệ khoảng 0,1% GDP giúp xác lập mức ưu tiên chính sách, nhưng chưa tự bảo đảm nhân tài khoa học được sử dụng đúng chỗ. Muốn biến định hướng thành năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, mỗi cơ quan cần xác định rõ mình cần ai, cho nhiệm vụ nào, tiêu chí lựa chọn ra sao và đóng góp được đánh giá thế nào.
Chương trình còn giao Bộ Nội vụ xây dựng khung tiêu chí quốc gia theo hướng mở, linh hoạt, đồng thời rà soát chính sách thu hút, đãi ngộ và cơ chế đặc biệt. Các chính sách về tiền lương, nhà ở, đất đai được nghiên cứu hoàn thiện; miền núi, biên giới và hải đảo là những địa bàn được ưu tiên. Những công cụ này cần gắn với năng lực, sản phẩm và cống hiến thực tế, thay vì ưu đãi hình thức.
Kết luận: 0,1% GDP là điểm khởi đầu cho một cơ chế đầu tư nhân tài có quy mô và trách nhiệm rõ hơn, không phải đích đến. Chính phủ đặt khung chung, địa phương tự chủ được quyền bố trí cao hơn, còn doanh nghiệp có thể góp sức. Thành công sẽ phụ thuộc vào việc phân bổ có bám sát nhiệm vụ, minh bạch và đánh giá được kết quả hay không.






