Dự án giao thông TP.HCM: Kẹt ở mặt bằng và vật liệu ngay sát vạch đích
Giải phóng mặt bằng và bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng là hai điều kiện nền tảng quyết định tiến độ các dự án giao thông TP.HCM, bởi chỉ cần chậm bàn giao vài vị trí hoặc thiếu một mắt xích cung ứng cát, đá, nhựa đường là cả chuỗi thi công sẽ bị đứt quãng, kéo lùi toàn bộ kế hoạch đã cam kết.
Trong bối cảnh nhiều công trình trọng điểm đã đi được hơn nửa chặng đường, những nút thắt này càng bộc lộ rõ. Đường Vành đai 3 đã đạt trên 80% khối lượng theo hợp đồng, nút giao An Phú khoảng 75%, Quốc lộ 50 khoảng 98%, nhưng phần việc còn lại lại tập trung đúng vào các đoạn chưa có mặt bằng sạch hoặc phụ thuộc nguồn vật liệu thiếu ổn định. Điều đáng nói là dù thời gian thực hiện đã được điều chỉnh, như với An Phú đến quý III/2027, nhiều gói thầu vẫn chậm, cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở khách quan mà đã thành điểm yếu hệ thống. Đây không còn là chuyện “chậm một chút”, mà là nguy cơ kéo dài dây chuyền chậm tiến độ công trình trên toàn mạng lưới giao thông đô thị.

Khu Đông TP.HCM: Dự án kéo dài vì thiếu vật liệu và mặt bằng cục bộ
Ngày 13/8, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND TP.HCM Nguyễn Văn Thọ dẫn đầu đoàn khảo sát thực tế các dự án đầu tư công và công trình giao thông kết nối vùng chậm tiến độ tại khu Đông thành phố. Chuyến khảo sát không chỉ là một cuộc kiểm tra hình thức, mà là lời cảnh báo trực tiếp gửi đến các chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng: nếu vẫn viện dẫn khó khăn chung mà không có giải pháp cụ thể, dự án sẽ còn ì ạch dài.
Tại cầu Phước An – công trình cấp đặc biệt nối Phú Mỹ với Nhơn Trạch, tổng mức đầu tư 4.877 tỷ đồng, sự lệch pha tiến độ giữa hai phía cho thấy rõ độ “vênh” tổ chức thực hiện: gói cầu chính đạt khoảng 94,9% giá trị xây lắp, các hạng mục phía TP.HCM khoảng 75%, trong khi phía Đồng Nai chỉ 17,5% và 8,6%. Ban quản lý dự án giao thông giải thích biến động giá cát, đá, nhiên liệu là nguyên nhân kìm hãm tiến độ và cam kết phấn đấu hoàn thành trong năm 2027. Nhưng khi phải tính đến cả phương án nhập khẩu cát từ Campuchia, có thể thấy hệ thống cung ứng vật liệu xây dựng đang đi sau nhu cầu thực tế, trong khi vướng mắc hạ tầng kỹ thuật và mặt bằng – như di dời lưới điện trung, hạ thế – tiếp tục cản trở thi công.
Giải phóng mặt bằng: Mắt xích quyết định nhưng vẫn là khâu yếu
Nhìn vào các công trình trọng điểm, một thông điệp lặp lại nhiều lần: nếu phải chọn một ưu tiên để cứu tiến độ, đó phải là giải phóng mặt bằng dứt điểm theo từng mốc thời gian cụ thể. Dự án nút giao An Phú là ví dụ điển hình. UBND TP.HCM đã ban hành Quyết định số 4548/QĐ-UBND ngày 23/7 điều chỉnh thời gian thực hiện đến quý III/2027, trong khi Ban quản lý giao thông dự kiến hoàn thành vào quý II/2027. Tuy vậy, mặt bằng thi công trụ T1, mố M1 và đường đầu cầu nhánh N1.2 vẫn chưa được bàn giao đầy đủ, dù kế hoạch bồi thường, hỗ trợ, tái định cư yêu cầu xong trước ngày 30/11.
Vành đai 2 cũng mắc bài toán tương tự όταν khó khăn lớn nhất là bồi thường, giải phóng mặt bằng tại một số vị trí khiến không thể tổ chức thi công đồng bộ toàn tuyến. Nút giao Mỹ Thủy càng cho thấy cái giá của mặt bằng chậm: đến tháng 6 dự án mới được giao 100% mặt bằng, trong khi công trình dự kiến hoàn thành quý I/2027. Khoảng thời gian thi công bị nén lại, áp lực dồn lên nhà thầu nhưng lỗi gốc lại nằm ở khâu chuẩn bị. Khi chi phí bồi thường ở đô thị lớn bị đánh giá là rất cao, việc chậm trễ còn kéo theo rủi ro đội vốn và mất niềm tin vào cam kết tiến độ của chính quyền.
Bài học từ đường Hồ Chí Minh: Khi nhà thầu không huy động đủ năng lực
Nếu khu Đông TP.HCM cho thấy sự phụ thuộc vào mặt bằng và vật liệu, thì Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhất, Gò Quao – Vĩnh Thuận cho thấy một điểm yếu khác: kỷ luật thi công của nhà thầu xây dựng và khả năng điều hành của chủ đầu tư. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã ký Công điện 37/CĐ-BXD yêu cầu khẩn trương khắc phục tồn tại, đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân. Đây là động thái thể hiện rõ quan điểm: chậm tiến độ công trình không còn được xem như “chuyện bình thường”, mà là trách nhiệm chính trị cụ thể.
Lũy kế giá trị sản lượng toàn Dự án mới đạt khoảng 66,46%, chậm 8,99% so với kế hoạch; gói XL1 đạt 65,12%, chậm 8,37%, XL2 đạt 65,76%, chậm 9,36%. Nguyên nhân không chỉ là khó khăn giải phóng mặt bằng và nguồn cung vật liệu, mà còn do Ban quản lý dự án chưa quyết liệt đôn đốc, chậm điều chuyển khối lượng, thay thế nhà thầu chậm tiến độ; nhiều lãnh đạo nhà thầu không ưu tiên nguồn lực tài chính cho công trường. Đáng chú ý, một số đơn vị chưa nghiêm túc huy động máy móc, thiết bị, nhân lực cho các hạng mục đường găng như đắp gia tải, cọc xi măng đất, cầu và đường đầu cầu, trong khi việc chủ động tìm kiếm, tập kết vật liệu vẫn chậm. Khi Bộ Xây dựng phải đặt ra mốc hoàn thành đắp gia tải trước 15/8 và cầu, đường đầu cầu trước 15/10, đó không chỉ là lịch kỹ thuật mà là “cảnh cáo” với những nhà thầu quen trông chờ gia hạn.
Trách nhiệm và phối hợp: Không thể tiếp tục đổ lỗi cho khách quan
Điểm chung của các dự án giao thông TP.HCM và tuyến đường Hồ Chí Minh là khoảng cách giữa chỉ đạo và thực thi. Dù Bộ Xây dựng đã nhiều lần kiểm tra hiện trường, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn về mặt bằng, vật liệu và đôn đốc chủ đầu tư, các đơn vị liên quan đẩy nhanh thi công, giải ngân, nhưng tình hình chưa có chuyển biến tương xứng. Sự phối hợp hành chính giữa cơ quan nhà nước và nhà thầu tư nhân vẫn còn nhiều “độ trễ”: nguồn vật liệu còn thiếu chưa xác định được, dù địa phương đã phân bổ một phần; các sở ngành phải xây dựng chỉ số giá trong giai đoạn biến động để có cơ sở điều chỉnh, giảm áp lực tài chính cho nhà thầu.
Trước thực trạng này, Thường trực HĐND TP.HCM khẳng định sẽ tiếp tục giám sát chặt kết quả thực hiện, và những trường hợp thiếu trách nhiệm, để dự án trì trệ kéo dài chắc chắn sẽ bị phê bình, xử lý nghiêm. Bộ Xây dựng yêu cầu Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ, chất lượng, giải ngân, và với nhà thầu không có chuyển biến sẽ điều chuyển khối lượng hoặc chấm dứt hợp đồng. Vành đai 3 phấn đấu khai thác trong năm 2026, Mỹ Thủy dự kiến hoàn thành quý I/2027, An Phú quý II/2027, Vành đai 2 cuối năm 2027. Những mốc này sẽ là thước đo thực chất cho năng lực tổ chức của hệ thống. Nếu mặt bằng không được giao đúng cam kết, vật liệu xây dựng không được bảo đảm và nhà thầu không bị ràng buộc trách nhiệm rõ ràng, mọi kế hoạch tiến độ chỉ còn là những con số đẹp trên giấy.






