Từ “có biển” đến quốc gia biển mạnh: lựa chọn mang tính thế hệ
Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng quốc gia biển mạnh là định hướng chiến lược dài hạn nhằm biến không gian biển thành trụ cột phát triển, gắn kinh tế biển với an ninh, môi trường, khoa học công nghệ và đời sống người dân, hướng tới mô hình phát triển bền vững biển thay cho khai thác ngắn hạn, manh mún và xung đột lợi ích giữa các ngành.
Thông điệp cốt lõi của nghị quyết là đến năm 2045, Việt Nam phải trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại và công nghệ biển tiên tiến. Nghĩa là mục tiêu không dừng ở tăng trưởng của kinh tế biển Việt Nam, mà là chuyển hóa toàn bộ không gian biển thành lợi thế cạnh tranh chiến lược. Từ Hội trường Diên Hồng sáng 29/7/2026, câu chuyện biển được đặt trong tổng thể sức mạnh quốc gia, đời sống nhân dân và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chứ không còn là “một ngành kinh tế” đơn lẻ. Đây là lựa chọn mang tính thế hệ: hoặc chúng ta làm chủ không gian biển, hoặc chấp nhận tụt lại trong cuộc đua đại dương xanh.

Kinh tế biển: từ khai thác tận thu sang phát triển bền vững biển
Sau 8 năm thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhận thức về vị trí, vai trò biển đã nâng lên, thể chế và chính sách từng bước hoàn thiện, hạ tầng cảng biển, khu kinh tế và đô thị ven biển được đầu tư, điều tra cơ bản và khoa học biển được chú trọng. Nhưng chính Nghị quyết 20-NQ/TW thẳng thắn thừa nhận: kết quả phát triển kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với lợi thế, quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển, quy hoạch không gian biển còn bất cập, cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng chưa hiệu quả.
Lý do sâu xa là chúng ta nhìn biển bằng những “lát cắt” riêng lẻ: giao thông chỉ quan tâm cảng biển, thủy sản chú trọng khai thác – nuôi trồng, năng lượng tập trung dầu khí – điện gió ngoài khơi, du lịch khai thác bờ biển, còn môi trường lo kiểm soát nguồn thải. Trên cùng một không gian biển, cách tiếp cận cục bộ này khiến tài nguyên bị tận thu, hệ sinh thái bị quá tải, sinh kế cộng đồng dễ bị tổn thương. Nghị quyết 20 đặt yêu cầu bước chuyển từ “có biển” sang “làm chủ không gian biển”; từ sử dụng tài nguyên sẵn có sang tổ chức, phân bổ và kiến tạo nguồn lực phát triển mới – đó chính là tinh thần phát triển bền vững biển.

Thể chế và dữ liệu: đường ray cho chiến lược phát triển biển
Muốn kinh tế biển Việt Nam bứt phá, điểm nghẽn đầu tiên phải tháo gỡ là thể chế và quản lý tài nguyên biển. Nghị quyết 20-NQ/TW xác định hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh là một đột phá chiến lược. Điều này không phải chuyện “tối ưu kỹ thuật văn bản”, mà là tái thiết toàn bộ khung pháp lý chi phối sử dụng không gian biển. Tại cuộc họp tham vấn sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh đạo luật mới phải giải quyết được các vướng mắc thực tế, tạo lối đi cho các mô hình kinh tế biển mới chứ không chỉ chỉnh sửa câu chữ.
Hệ thống pháp luật về biển và hải đảo phải được rà soát để bảo đảm thống nhất, minh bạch, khả thi, đủ sức tháo gỡ điểm nghẽn đang cản trở nguồn lực xã hội. Cùng với đó là hoàn thiện quy định về giao, cho thuê, đăng ký và sử dụng không gian biển; xác định rõ quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ từng chủ thể; gắn khai thác với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Nếu thể chế là “đường ray” thì dữ liệu là nền móng của quản trị biển hiện đại: không thể phân bổ không gian cho nuôi biển, giao thông hàng hải, năng lượng tái tạo biển, bảo tồn thiên nhiên và quốc phòng chỉ dựa trên hồ sơ rời rạc, dữ liệu thiếu đồng bộ.
Năng lượng tái tạo biển và các ngành mới: cơ hội hay phép thử?
Nghị quyết 20-NQ/TW không chỉ bảo vệ phần “cũ” của kinh tế biển mà còn mở đường cho những ngành “mới” giàu tiềm năng. Đạo luật sửa đổi về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được yêu cầu phải mở không gian cho điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, kinh tế biển xanh, đồng thời xử lý các vấn đề môi trường mới nổi như rác thải nhựa đại dương, suy thoái hệ sinh thái và biến đổi khí hậu. Nếu làm tốt, Việt Nam có thể trở thành điểm đến đầu tư trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo biển, hậu cần hàng hải xanh và dịch vụ sinh thái biển chất lượng cao.
Nhưng cơ hội luôn đi kèm phép thử. Ô nhiễm môi trường, suy giảm nguồn lợi thủy sản, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xói lở bờ biển đang diễn biến phức tạp. Cách phát triển cũ – ưu tiên tăng trưởng trước, môi trường xử lý sau – không còn chỗ đứng. Kết luận 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu đã đặt bảo vệ môi trường vào vị trí trung tâm của các quyết định phát triển, yêu cầu tiến hành kiểm toán môi trường theo quy định pháp luật như một công cụ để thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và kết quả thực tế. Nói cách khác, mọi dự án trên biển – từ cảng, điện gió đến du lịch – đều phải “qua cửa” kiểm toán môi trường nếu muốn bền vững.

Quản trị biển hiện đại: việc của riêng nhà nước hay của toàn xã hội?
Trong bức tranh quốc gia biển mạnh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường không quản lý toàn bộ các ngành kinh tế biển, nhưng lại nắm giữ nhiều nền tảng quyết định chất lượng và tính bền vững của quá trình phát triển. Tuy vậy, nếu chỉ trông đợi vào một bộ ngành là sai lầm: quản lý tài nguyên biển và phát triển bền vững biển là bài toán của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng. Hội thảo quốc gia về hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững tại Cửa Lò ngày 5/6/2026 đã quy tụ lãnh đạo các cơ quan Trung ương, 21 tỉnh thành có biển, chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp cùng tham dự – một tín hiệu tích cực nhưng mới là bước khởi đầu.
Kết luận 75 khẳng định kiểm toán môi trường là cơ sở chính trị quan trọng để tăng trách nhiệm giải trình, bảo vệ lợi ích công và đồng hành cùng đất nước trong chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân. Còn Nghị quyết 20 nhấn mạnh phát triển bền vững kinh tế biển là thước đo năng lực quản trị hiện đại. Nói rõ hơn: một quốc gia biển mạnh không được đo bằng số lượng cảng, tàu hay khu nghỉ dưỡng, mà bằng khả năng bảo đảm sinh kế dài hạn, giữ gìn hệ sinh thái, tôn trọng cam kết môi trường và quản trị biển dựa trên dữ liệu, pháp luật. Đến năm 2045, câu hỏi không phải Việt Nam có trở thành quốc gia biển mạnh hay không, mà là chúng ta có đủ dũng khí từ bỏ cách phát triển “ăn xổi” để đạt được điều đó.







