Tiết kiệm năng lượng: từ bài toán chi phí đến chiến lược cạnh tranh
Tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả năng lượng là việc sử dụng ít năng lượng hơn cho cùng một mức sản lượng, dịch vụ hay tiện nghi, thông qua đổi mới công nghệ, thay đổi quy trình sản xuất và quản trị năng lượng hiện đại, nhằm giảm áp lực lên hệ thống năng lượng, cắt giảm phát thải và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế. Ngày 14/8 tại Đà Nẵng, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công thuộc Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả toàn quốc, quy tụ cơ quan quản lý, ngành điện, tổ chức tài chính, chuyên gia và doanh nghiệp để bàn về cơ chế tài chính và công nghệ. Điểm nhấn của hội nghị là sự thay đổi tư duy: tiết kiệm năng lượng không còn bị nhìn như một biện pháp “thắt lưng buộc bụng” mà là nền tảng của tăng trưởng xanh, là thước đo năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế và từng doanh nghiệp. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, nhiều thời điểm đạt công suất cực đại mới và gây áp lực lên hệ thống điện, doanh nghiệp nào coi hiệu quả năng lượng là chiến lược chứ không phải phong trào sẽ là doanh nghiệp đi trước.

Khung chính sách năng lượng mới: luật đã có, thách thức là thực thi
Hội nghị diễn ra đúng thời điểm hệ thống chính sách năng lượng bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng với Luật số 77/2025/QH15 và Nghị định 30/2026/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực, cùng Chỉ thị 09 yêu cầu triển khai quyết liệt các giải pháp tiết kiệm năng lượng và hoàn thiện hồ sơ Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Đây là nền tảng pháp lý cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở văn bản, hiệu quả năng lượng sẽ không cải thiện đáng kể. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019–2030 (VNEEP3) đặt mục tiêu tiết kiệm 8–10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc, song kết quả triển khai hiện chưa đồng đều, tiềm năng tiết kiệm trong công nghiệp vẫn rất lớn và nhiều dự án vướng thời gian hoàn vốn dài, khó tiếp cận vốn. Một câu nói cần được trích dẫn rộng rãi là: “Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là đưa các quy định và giải pháp tiết kiệm năng lượng vào thực tiễn một cách đồng bộ, thực chất, có khả năng giám sát và đo lường kết quả”. Nói cách khác, thách thức không còn là thiếu chính sách năng lượng, mà là thiếu cơ chế buộc các bên phải thực hiện đến nơi đến chốn.

Cơ chế tài chính: từ ‘vốn mồi’ đến Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm
Nếu hiệu quả năng lượng là lợi thế cạnh tranh mới, tài chính chính là nút thắt phải tháo trước. Tại hội nghị, một trong những trọng tâm là cơ chế huy động nguồn lực cho các dự án tiết kiệm năng lượng; mô hình Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được kỳ vọng là công cụ “vốn mồi” cho các dự án có tiềm năng nhưng thiếu vốn, thiếu kỹ thuật hoặc khó tiếp cận tín dụng. Tuy nhiên, nếu Quỹ chỉ là nơi “phân phát” kinh phí, nó sẽ nhanh chóng trở thành phụ thuộc ngân sách, thay vì kích hoạt đầu tư tư nhân. Các chuyên gia nhấn mạnh cần vừa cơ chế ưu đãi, vừa chế tài để buộc doanh nghiệp sử dụng năng lượng hiệu quả hơn. Kinh nghiệm quản lý ủy thác, cho vay cho các dự án tiết kiệm năng lượng và sự tham gia của ngân hàng, tổ chức tài chính sẽ quyết định Quỹ này có tạo được thị trường tiết kiệm năng lượng hay không. Ở góc độ doanh nghiệp, một cơ chế tài chính thông minh phải giúp giảm rủi ro đầu tư, chia sẻ lợi ích tiết kiệm và gắn tiết kiệm năng lượng với tín nhiệm tín dụng. Nếu không, hiệu quả năng lượng sẽ vẫn là khẩu hiệu hay trong báo cáo nhưng khó thành hành động trên dây chuyền sản xuất.
Công nghệ và quản trị năng lượng: lợi thế của người dám hiện đại hóa
Hội nghị cho thấy rõ một điều: hiệu quả năng lượng không thể nâng lên bằng vài biện pháp tiết kiệm đơn lẻ, mà phải dựa trên công nghệ quản trị năng lượng hiện đại. Ứng dụng IoT, trí tuệ nhân tạo, hệ thống quản lý năng lượng thông minh, công nghệ đo đếm và phân tích dữ liệu thời gian thực đang được xem là “bộ não” mới giúp doanh nghiệp kiểm soát tiêu thụ năng lượng và phát thải carbon. Theo các chuyên gia, “trong quá trình này, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, các hệ thống quản lý năng lượng thông minh, công nghệ đo đếm và phân tích dữ liệu theo thời gian thực sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng”. Vấn đề là nhiều cơ sở sản xuất vẫn thiếu năng lực kiểm toán năng lượng, chưa có quy trình quản trị rõ người, rõ việc, rõ kết quả. Khi mô hình chính quyền địa phương chuyển sang hai cấp, yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước càng đặt ra áp lực phải đo lường và công khai hiệu quả năng lượng. Như lãnh đạo Sở Công Thương Đà Nẵng nhấn mạnh, tiết kiệm năng lượng không phải là hạn chế phát triển mà là “sử dụng năng lượng thông minh hơn, tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị năng lượng”, từ đó giảm chi phí, nâng năng suất và mở rộng dư địa cho tăng trưởng xanh.
Doanh nghiệp và tăng trưởng xanh: ai chậm sẽ bị bỏ lại trong chuỗi cung ứng
Điểm quan trọng nhất của hội nghị là lời nhắc trực diện dành cho doanh nghiệp: nếu tiếp tục coi tiết kiệm năng lượng là việc phụ trách bởi phòng kỹ thuật hay tiện ích, không gắn với chiến lược cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, nhu cầu năng lượng cho sản xuất và đời sống sẽ tiếp tục tăng mạnh, gây áp lực lên an ninh năng lượng và phát thải. Chỉ những doanh nghiệp biến hiệu quả năng lượng thành năng lực lõi mới đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất xanh và tận dụng cơ hội thị trường. Mỗi kWh tiết kiệm được không chỉ tương đương một khoản chi phí giảm đi mà còn là điểm cộng trong hồ sơ môi trường, xã hội, quản trị (ESG) và là dư địa để doanh nghiệp đầu tư cho công nghệ, mở rộng sản xuất. Đặt trong khung chính sách năng lượng mới, doanh nghiệp nào biết đi sớm – tiếp cận Quỹ Thúc đẩy, áp dụng công nghệ quản trị năng lượng, chấp nhận đo lường và báo cáo minh bạch – sẽ là người hưởng lợi lớn nhất từ tăng trưởng xanh. Những người chờ chính sách “ép” mới làm sẽ phải trả giá bằng chi phí cao hơn, cơ hội xuất khẩu ít hơn và vị thế yếu hơn trong cạnh tranh quốc tế.






