Từ lợi thế cảng đến tham vọng công nghệ
Hợp tác bán dẫn là sự phối hợp giữa doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu và chính quyền để phát triển các khâu như thiết kế vi mạch, sản xuất chip và đào tạo nhân lực, qua đó gắn công nghệ cao với năng lực công nghiệp địa phương. Đây là cơ hội Hải Phòng muốn đón đầu bằng cách kết nối thế mạnh cảng biển, mạng lưới giao thông và định hướng trở thành trung tâm logistics quốc tế. Chủ tịch UBND thành phố Đỗ Thành Trung đã tiếp và làm việc với đoàn công tác do bà Jennifer Wicks, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, dẫn đầu. Cuộc gặp diễn ra trong lúc Hải Phòng thúc đẩy mô hình Khu Thương mại Tự do nhằm mở rộng không gian kinh tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Thành phố có nền tảng công nghiệp, cảng biển và giao thông đối ngoại; điều cần chứng minh tiếp theo là những lợi thế ấy có thể chuyển thành dự án công nghệ cụ thể, chứ không dừng ở lời mời gọi đầu tư.

Chọn lọc đầu tư vào công nghệ cao và bán dẫn
Hải Phòng không chỉ tìm thêm vốn, mà muốn thu hút dự án phù hợp với hướng dịch chuyển lên các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Tại cuộc làm việc, lãnh đạo thành phố nêu ưu tiên có chọn lọc đối với chip bán dẫn, vi mạch điện tử, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn và năng lượng sạch. Thành phố cũng mong các tập đoàn Hoa Kỳ xem xét đầu tư trực tiếp, liên kết với doanh nghiệp trong nước và lập trung tâm nghiên cứu, phát triển, đổi mới sáng tạo tại các khu công nghiệp, khu kinh tế và Khu Thương mại Tự do. Định hướng này có ý nghĩa nếu đi cùng năng lực nghiên cứu và nhân lực tại chỗ. Hải Phòng đề xuất kết nối trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp Hoa Kỳ với Trường Đại học Hàng hải Việt Nam cùng các cơ sở đào tạo trong thành phố. Nhu cầu tuyển dụng dự kiến khoảng 400.000 lao động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế giai đoạn 2026–2030 cho thấy đào tạo không thể là phần việc phụ của chiến lược đầu tư.

Cảng biển thông minh là mắt xích của chuỗi cung ứng
Cảng biển thông minh không phải một dự án tách rời khỏi công nghiệp bán dẫn; đó có thể là hạ tầng giúp hàng hóa, linh kiện và dữ liệu lưu chuyển hiệu quả hơn trong cùng một hệ sinh thái sản xuất. Hải Phòng đề xuất doanh nghiệp Hoa Kỳ tham gia phát triển kho bãi tự động hóa, chuỗi cung ứng lạnh, cảng thông minh và logistics hiện đại. Thành phố cũng giới thiệu các kết nối giao thông hướng tới cảng nước sâu Lạch Huyện, Nam Đồ Sơn, tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và việc mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cát Bi. Kết nối các dự án này với công nghệ có thể tăng sức hấp dẫn của đầu tư Hải Phòng: nhà đầu tư không chỉ tiếp cận mặt bằng sản xuất mà còn có cơ hội liên kết với hạ tầng vận tải và dịch vụ hậu cần. Nhưng tham vọng ấy cần được đo bằng khả năng triển khai đồng bộ, từ kho bãi và dữ liệu đến kết nối đường bộ, đường sắt, hàng không và cảng biển.
Cơ hội chỉ thành kết quả khi có bước tiếp theo
Cuộc gặp tạo ra một hướng hợp tác đáng chú ý, nhưng lời kêu gọi đầu tư mới là điểm khởi đầu. Đại sứ Jennifer Wicks đánh giá các ưu tiên của Hải Phòng về bán dẫn, kinh tế số, logistics xanh và phát triển nhân lực phù hợp với các chương trình hợp tác của Hoa Kỳ trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Đại sứ quán Hoa Kỳ cũng cam kết tiếp tục làm cầu nối để doanh nghiệp và viện nghiên cứu Hoa Kỳ khảo sát, xúc tiến đầu tư, hướng tới hợp tác dài hạn. Điều Hải Phòng cần lúc này là biến sự tương thích về định hướng thành dự án có đối tác, lộ trình và năng lực thực hiện rõ ràng. Khu Thương mại Tự do, nguồn nhân lực và hạ tầng cảng phải cùng hỗ trợ mục tiêu đó; nếu mỗi lĩnh vực tiến riêng lẻ, lợi thế kết nối sẽ bị giảm. Kết luận, kết hợp công nghệ cao với cảng biển là lựa chọn có cơ sở cho Hải Phòng, nhưng thành công sẽ phụ thuộc vào khả năng nối ưu đãi, đào tạo và logistics thành một môi trường đầu tư vận hành được.






