Luật Phát triển đô thị: từ đô thị lớn đến siêu đô thị đa trung tâm
Luật Phát triển đô thị là khung pháp lý mới định hình lại cách quy hoạch, quản trị không gian phát triển và hiện đại hóa hạ tầng, cho phép các thành phố lớn như TP.HCM chuyển từ mô hình đô thị đơn cực, phân mảnh sang cấu trúc siêu đô thị đa trung tâm, nơi tài chính, công nghiệp công nghệ cao, cảng biển và logistics được tổ chức như một hệ sinh thái đô thị – kinh tế thống nhất, cạnh tranh trong mạng lưới khu vực và toàn cầu. Điểm đáng nói là luật này buộc TP.HCM phải thoát khỏi tư duy “đô thị lớn nhất cả nước” để tự định vị như một TP.HCM siêu đô thị. Không gian kinh tế của Thành phố đã thực tế vượt ra khỏi ranh giới hành chính, kết nối chặt với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, tạo nên cấu trúc gồm trung tâm tài chính – dịch vụ, trung tâm công nghiệp – công nghệ cao và hệ thống cảng biển – logistics gắn với kinh tế biển. Nếu không có một luật thống nhất quản trị không gian phát triển, cấu trúc này sẽ mãi là “lợi thế rời rạc”.

Quản trị thống nhất không gian phát triển: bước chuyển chiến lược
Một siêu đô thị không thể được điều hành bằng tư duy phân mảnh: mỗi quyết định quy hoạch, đất đai, giao thông, nhà ở và hạ tầng lại chạy theo một bộ thủ tục khác nhau. Luật Phát triển đô thị đặt TP.HCM trước yêu cầu quản trị thống nhất không gian phát triển, vừa là “cơ hội thể chế”, vừa là áp lực trách nhiệm. Chính quyền Thành phố được trao quyền quyết định lớn hơn về quy hoạch, đầu tư và sử dụng đất, trong khi Trung ương giữ vai trò xác lập nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu chiến lược quốc gia. Đây là phân quyền thực chất, đi kèm trách nhiệm giải trình. Thành phố càng chủ động trong quản trị không gian phát triển thì càng phải chứng minh với người dân rằng mỗi mét vuông đất, mỗi dự án hạ tầng đều phục vụ tăng trưởng dài hạn và chất lượng sống. Luật phát triển đô thị còn cho phép Thành phố tiếp nhận nguồn bổ sung ngân sách từ Trung ương với điều kiện mục tiêu sử dụng được xác định rõ ràng. Nói cách khác, khung pháp lý mới không phải để chi tiêu thoải mái, mà là để đầu tư có chọn lọc cho một siêu đô thị đa trung tâm.

Cần Giờ: minh chứng sống cho hiện đại hóa hạ tầng và tái cấu trúc không gian
Nếu muốn thấy Luật Phát triển đô thị đang dịch chuyển thực tế như thế nào, hãy nhìn vào Cần Giờ. Những ngày cuối tháng 8/2026, hàng nghìn công nhân, kỹ sư và người lao động đang bám trụ trên công trường các dự án hạ tầng đô thị lấn biển, hàng trăm nhân sự nhà thầu thi công cầu đường sắt Cần Giờ. Đây không chỉ là một dự án giao thông; nó là mảnh ghép chiến lược trong bài toán hiện đại hóa hạ tầng và phá vỡ thế cô lập của một xã đảo. Tuyến đường sắt đô thị Bến Thành – Cần Giờ với cầu đường sắt Cần Giờ là dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, tổng mức đầu tư hơn 102.430 tỷ đồng, khởi công tháng 12/2025, dự kiến khai thác năm 2028. Toàn tuyến gồm đoạn đi nổi, cầu vượt sông và đoạn đi ngầm, kết nối liên thông Cần Giờ với Bà Rịa – Vũng Tàu, chấm dứt tình trạng “biệt lập” của khu vực này. Mỗi cọc khoan nhồi của cầu có đường kính 2,5 m, sâu 130 m – một con số cho thấy mức độ hiện đại hóa hạ tầng mà Thành phố đang theo đuổi, không chỉ để đi lại thuận tiện hơn mà để mở khóa tiềm năng kinh tế biển và logistics.

Biển và khu kinh tế đặc biệt: không gian mới cho TP.HCM siêu đô thị
Theo đánh giá của lãnh đạo Thành phố, nhiều vấn đề từ thực tiễn đã được đưa vào Luật Phát triển đô thị, trong đó có cơ chế phát triển khu đô thị lấn biển. Với hơn 300 km bờ biển sau khi mở rộng địa giới, TP.HCM có dư địa để tái cấu trúc không gian phát triển: kết nối trung tâm tài chính, thương mại, khoa học – công nghệ và công nghiệp với cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, biển Cần Giờ, du lịch Vũng Tàu – Côn Đảo và mạng lưới logistics Đông Nam Bộ. Những không gian mới này không nên chỉ được nhìn như “mặt bằng mở rộng đô thị”, mà là cơ sở để hình thành các khu kinh tế đặc biệt với cơ chế vượt trội. Luật tạo điều kiện để TP.HCM nghiên cứu những khu vực chuyên biệt cho tài chính quốc tế, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, logistics, kinh tế số hoặc kinh tế biển. Nếu được thiết kế như các sandbox chính sách, các khu này có thể trở thành nơi thử nghiệm mô hình quản trị và quy định mới trước khi nhân rộng ra cả nước. Mục tiêu không phải là thêm vài khu ưu đãi thuế, mà là tạo ra những cực tăng trưởng có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó nâng cấp vị thế TP.HCM trong mạng lưới siêu đô thị khu vực.
Điều kiện để TP.HCM tận dụng cơ hội trở thành siêu đô thị
Luật Phát triển đô thị mới rõ ràng chỉ là điều kiện cần. Khả năng TP.HCM trở thành siêu đô thị phụ thuộc vào việc Thành phố có đủ năng lực thể chế, tầm nhìn quy hoạch và sự chủ động trong quản trị để biến không gian mở rộng thành một cấu trúc thống nhất. Câu hỏi không phải là “TP.HCM có thêm bao nhiêu tuyến metro, bao nhiêu cầu, bao nhiêu khu công nghiệp”, mà là những hạ tầng đó phục vụ mô hình kinh tế nào: bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất xanh hay kinh tế biển. Nếu Thành phố xác định bán dẫn là ngành chiến lược, quy hoạch phải dành không gian cho trung tâm nghiên cứu, sản xuất, logistics, nhà ở chuyên gia, trường đại học và doanh nghiệp hỗ trợ. Nếu coi trí tuệ nhân tạo là ngành mũi nhọn, hạ tầng dữ liệu, trung tâm tính toán, nguồn điện ổn định và không gian đổi mới sáng tạo phải đi trước một bước. Và nếu sản xuất xanh là hướng dài hạn, không gian đô thị phải được thiết kế với năng lượng sạch, xử lý nước, chất thải và giao thông xanh. Cơ hội trước mắt của TP.HCM vì thế không đơn giản là mở rộng đô thị, mà là nâng cấp vị thế trong mạng lưới kinh tế khu vực và toàn cầu. Để làm được điều đó, Thành phố phải coi tự chủ là trách nhiệm, không phải đặc quyền.






