Ống kính như ký ức tập thể: vì sao nhiếp ảnh di sản Việt quan trọng
Nhiếp ảnh di sản Việt là hoạt động dùng hình ảnh để ghi lại, diễn giải và kể câu chuyện về đời sống, phong tục, không gian tự nhiên và các giá trị tinh thần của cộng đồng, nhằm tạo nên một kho lưu trữ ký ức trực quan cho thế hệ hôm nay và mai sau, đồng thời giúp công chúng nhận ra bản sắc và vẻ đẹp của văn hóa nơi mình thuộc về. Khi nhìn vào những dự án tài liệu văn hóa ảnh đang nở rộ, có thể thấy rõ: ống kính không chỉ phản chiếu hiện thực, mà đang âm thầm định hình cách chúng ta hiểu chính mình. Ba dự án về mẹ, về biển đảo, về văn hóa địa phương cho thấy bảo tồn di sản qua ảnh là một lựa chọn mang tính quan điểm – chọn đứng về phía ký ức, chống lại sự lãng quên trong thời đại hình ảnh trôi qua chóng mặt.
Hơn hai thập kỷ đi tìm hình bóng "Mẹ": nhiếp ảnh như lời tri ân
Trong số những dự án nhiếp ảnh di sản Việt, bộ ảnh "Mẹ" của Trần Thế Phong là một tuyên ngôn cảm xúc về người phụ nữ Việt Nam. Từ năm 2001 đến 2026, ông kiên trì ghi lại 108 khoảnh khắc đời thường của các bà mẹ ở nhiều vùng miền: gánh hàng rong, ru con ngủ, ngồi bên mái hiên, trầm tư trước đồng ruộng. Đó không phải những khuôn hình tô điểm sự lý tưởng hóa, mà là tài liệu văn hóa ảnh của những cuộc đời âm thầm chống chọi, nuôi dưỡng gia đình và cộng đồng. Nhiếp ảnh gia từng chia sẻ ông xem dự án như cách gửi "lời tri ân và biết ơn đến những người mẹ Việt Nam". Khi có người xem sách rồi lập tức bay về Đà Nẵng thăm mẹ, ta thấy ảnh không dừng ở thẩm mỹ: nó kích hoạt hành động, nối lại những sợi dây tình cảm đang có nguy cơ đứt gãy.
Nguyễn Á và câu chuyện biển đảo, di sản phi vật thể qua sách ảnh
Nếu Trần Thế Phong đi tìm bóng dáng mẹ, Nguyễn Á chọn nhìn rộng ra không gian di sản và biển đảo. Hai cuốn sách ảnh "Những di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh" và "Chuyện về Biển đảo quê hương" là kết quả của 16 năm rong ruổi, tiếp nối hơn 30 năm cầm máy. Theo báo Thế giới & Việt Nam, cuốn sách đầu tiên tập hợp hình ảnh 17 di sản văn hóa phi vật thể, từ Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến nghệ thuật tranh dân gian Đông Hồ. Song song đó, hành trình dọc 5 vùng biển, tác nghiệp tại nhiều đơn vị Hải quân giúp ông ghi lại nhịp sống, công việc và trách nhiệm của người lính biển. Những triển lãm ảnh Việt Nam xoay quanh hai bộ sách không chỉ tôn vinh non sông, người lính, mà còn chứng minh: bảo tồn di sản qua ảnh đòi hỏi biên tập, chọn lọc khắt khe để từng khung hình kết dính thành một câu chuyện có nghĩa.

Từ Cần Thơ đến cả nước: khi ảnh văn hóa trở thành sản phẩm du lịch
Không chỉ những dự án cá nhân dài hơi, các triển lãm ảnh Việt Nam gắn với sự kiện địa phương cũng đang âm thầm xây kho dữ liệu hình ảnh chung. Triển lãm ảnh về văn hóa và du lịch Cần Thơ trong Tuần lễ Ẩm thực Cần Thơ 2026 cho thấy điều đó: các tác phẩm giới thiệu chợ nổi, bến Ninh Kiều, miệt vườn, lối sống sông nước cùng những món ăn đặc sắc. Khi du khách chen chân xem ảnh, chụp lại bằng điện thoại, chia sẻ lên mạng xã hội, bộ ảnh lập tức trở thành dạng tài liệu văn hóa ảnh thứ cấp, tiếp tục lan tỏa. Địa phương có thêm một sản phẩm du lịch mềm, còn nhiếp ảnh gia thì góp phần định nghĩa diện mạo Cần Thơ trong mắt người ngoài. Nếu biết đầu tư dài hạn cho những hoạt động như vậy, các đô thị sẽ xây được kho hình ảnh bản sắc của mình thay vì chỉ chạy theo xu hướng quảng bá ngắn hạn.
Bảo tồn di sản qua ảnh: trách nhiệm và quyền được kể của cộng đồng
Điểm chung của ba dự án là niềm tin rằng nhiếp ảnh di sản Việt không chỉ là việc của nghệ sĩ, mà là chuyện của cộng đồng. Nguyễn Á nói mỗi bức ảnh phải "góp phần kể nên một câu chuyện", còn Đại sứ Pakistan tại Việt Nam Kohdayar Marri nhấn mạnh nếu thiếu công tác lưu giữ và trao truyền di sản, bản sắc dân tộc rất dễ bị mai một giữa làn sóng hiện đại hóa và thương mại hóa. Điều đó đặt ra một yêu cầu mới: cộng đồng, nhà quản lý, nhà nghiên cứu cần xem nhiếp ảnh như một công cụ chính thống trong bảo tồn di sản qua ảnh, đầu tư vào lưu trữ, số hóa, phổ biến. Quan trọng hơn, cần tạo điều kiện để người dân – những chủ thể di sản – được cầm máy, được tự kể câu chuyện của mình. Khi quyền được kể được chia đều, kho ảnh về mẹ, về biển đảo, về Cần Thơ sẽ không còn là bộ sưu tập của ít người, mà thành ký ức chung của cả xã hội.







