Nhiếp ảnh tài liệu văn hóa: Khi căn cước quốc gia hiện lên qua thời gian
Nhiếp ảnh tài liệu văn hóa là quá trình dùng ống kính để ghi lại có hệ thống những khoảnh khắc đời sống, phong tục, tín ngưỡng và không gian sinh hoạt của cộng đồng trong thời gian dài, nhằm tạo nên hồ sơ hình ảnh có khả năng kể câu chuyện về căn cước, ký ức tập thể và sự biến đổi của di sản qua nhiều thế hệ. Ở Việt Nam, ba dự án ảnh phóng sự dài hạn về mẹ, về biển đảo và về các di sản văn hóa phi vật thể được vinh danh đã âm thầm xây dựng những cuốn biên niên sử bằng hình ảnh. Điều đáng nói không phải là kỹ thuật chụp xuất sắc, mà là thái độ kiên trì nhìn lại chính mình. Trong bối cảnh đô thị hóa và thương mại hóa văn hóa tăng tốc, những dự án nhiếp ảnh tài liệu văn hóa này là lời nhắc rằng nếu chúng ta không tự kể câu chuyện của mình, người khác sẽ kể hộ – với góc nhìn không phải lúc nào cũng công bằng.
Hơn 20 năm đi tìm hình bóng Mẹ: Di sản cảm xúc không ghi trong hồ sơ
Trong dự án sách ảnh Mẹ, nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong dành hơn 20 năm rong ruổi khắp mọi miền để ghi lại hình bóng những người mẹ Việt Nam mà ông có dịp gặp gỡ và tri ân. Khi nói “Chúng ta, ít nhiều ai cũng sẽ đều tìm được hình bóng mẹ trong cuốn sách Mẹ”, ông chạm vào phần di sản ít được gọi tên: ký ức tình cảm. Nếu di sản Việt Nam thường được gợi nhắc bằng đình chùa, lễ hội, âm nhạc, thì ở đây, di sản nằm trong cái nhìn, nếp nhăn, dáng ngồi bên bếp lửa. Dự án này cho thấy nhiếp ảnh di sản không nhất thiết bám vào những gì được UNESCO ghi danh; nó có thể đi từ những khoảnh khắc bình dị nhất. Hạn chế là người xem không thấy hết được bản đồ đủ mọi vùng miền hay số lượng chuẩn từng nhóm ảnh, nhưng chính sự mở này lại cho phép mỗi người tự lấp đầy bằng câu chuyện mẹ của riêng mình.
Nguyễn Á và 16 năm kể chuyện di sản phi vật thể cùng biển đảo
Trái với sự thân mật của Mẹ, hành trình 16 năm của nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á lại hướng ống kính về những trụ cột chính thức của di sản Việt Nam: biển đảo và các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh. Bộ sách Những di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh tập hợp hình ảnh 17 di sản, từ Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, hát Xoan Phú Thọ đến thực hành Then, nghệ thuật Xòe Thái, nghệ thuật làm gốm của người Chăm, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam và tranh dân gian Đông Hồ. Song hành là Chuyện về Biển đảo quê hương, thành quả của nhiều năm rong ruổi dọc 5 vùng biển trên cả nước và tác nghiệp tại nhiều đơn vị hải quân, kể cả khu vực quân sự đặc thù. Qua từng khung hình, ông dựng nên cả một trường ca thị giác về vẻ đẹp non sông, sự kiên trung của người lính và sức sống bền bỉ của những di sản ngàn đời.
Ít người ngoài nghề nhận ra rằng chụp được ảnh mới chỉ là bước đầu; với mỗi cuốn sách, Nguyễn Á phải lựa chọn, biên tập hàng nghìn hình ảnh để kết nối thành một câu chuyện có ý nghĩa. Hàng nghìn tấm hình ấy phải qua nhiều vòng chọn lọc kỹ lưỡng, trong khi tác giả liên tục tìm kiếm góc nhìn mới, khoảnh khắc khác biệt và tìm cách tránh lặp lại chính mình. Đây là mặt tối của ảnh phóng sự dài hạn: nó đòi hỏi năng lượng biên tập, vốn và thời gian gần như không thấy trong sản phẩm cuối cùng. Tuy vậy, thành quả là những cuốn sách ảnh không chỉ tôn vinh di sản, mà còn trở thành cầu nối bền chặt đưa giá trị văn hóa, lịch sử và tâm hồn Việt lan tỏa tới công chúng trong nước và bạn bè quốc tế.

Từ triển lãm đến cộng đồng: Ai cần những dự án nhiếp ảnh di sản dài hơi?
Nhìn ba hành trình song song – một về mẹ, một về biển đảo, một về di sản phi vật thể – ta thấy ảnh phóng sự dài hạn không dành riêng cho giới nghệ sĩ. Nó chạm tới ít nhất ba nhóm người. Với cộng đồng trong nước, các bộ sách và triển lãm dùng ngôn ngữ nhiếp ảnh đầy cảm xúc để khắc họa vẻ đẹp non sông, nét kiên trung của người lính và sức sống bất diệt của những di sản ngàn đời, từ đó nuôi dưỡng tự hào và ý thức bảo vệ di sản Việt Nam. Với giới nghiên cứu và quản lý văn hóa, đây là kho tư liệu sống cho công tác bảo tồn, khi từng tấm ảnh trở thành mốc thời gian của phong tục, nghi lễ, không gian diễn xướng. Với bạn bè quốc tế, những câu chuyện bằng hình ảnh là cánh cửa trực quan dẫn họ vào một thế giới văn hóa phức hợp – nơi biển đảo, lễ hội, âm nhạc và khuôn mặt người mẹ tạo nên căn cước chung.

Kết luận: Giữ di sản bằng mắt nhìn kiên nhẫn
Điểm chung quan trọng của ba dự án là sự kiên nhẫn. Hơn 20 năm đi tìm hình bóng mẹ, 16 năm miệt mài trên những hành trình biển đảo và di sản văn hóa phi vật thể – đó không phải là những con số trang trí, mà là thời gian đủ để quan sát sự thay đổi. Nhiếp ảnh tài liệu văn hóa, nếu chỉ xuất hiện như chiến dịch ngắn ngày, khó có thể phản ánh chiều sâu căn cước. Nhưng khi người cầm máy chấp nhận gắn bó dài hơi, họ tạo ra các lớp tư liệu giúp thế hệ sau nhìn lại mình một cách cụ thể, không mơ hồ. Hạn chế nằm ở chỗ những dự án như vậy cần nguồn lực, sự dấn thân và công tác biên tập rất nặng, nên không thể phổ biến đại trà. Dù vậy, chính tính "không dễ làm" khiến mỗi cuốn sách, mỗi triển lãm nghiêm túc trở thành một mốc văn hóa. Nếu muốn di sản Việt Nam không chỉ tồn tại trên văn bản và hồ sơ, chúng ta cần thêm nhiều cái nhìn kiên nhẫn như thế – từ nghệ sĩ, nhà nghiên cứu cho đến những người trẻ cầm máy hôm nay.







