Từ “chống ngập TP.HCM” tới “quản trị ngập lụt”: vì sao 142.000 tỷ có thể vẫn chưa đủ?
Kế hoạch chống ngập TP.HCM giai đoạn 2026-2030 là chương trình đầu tư công kết hợp giao thông, thủy lợi, dự án thoát nước, chỉnh trang hạ tầng đô thị, di dời nhà ven kênh rạch và ứng dụng công nghệ kiểm soát triều nước, nhằm xử lý các điểm ngập do mưa, triều và sụt lún kéo dài trên địa bàn thành phố. TP.HCM dự kiến triển khai 87 dự án chống ngập với tổng vốn hơn 142.340 tỷ đồng, hướng tới xử lý 50 vị trí ngập, ưu tiên khu trung tâm, khu dân cư dày đặc, khu công nghiệp và trục giao thông chính. Về con số, đây là một nỗ lực hiếm có. Nhưng nhìn lại thực tế ngập lụt kéo dài, từ Phan Văn Hớn, Bình Quới đến các nút giao quốc lộ, dễ thấy thành phố đang đối mặt với vấn đề cấu trúc đô thị chứ không chỉ là vài đoạn cống tắc. Câu hỏi không phải “có đủ tiền không” mà là “có dám thay đổi tư duy từ vá víu cục bộ sang quản trị ngập lụt theo lưu vực toàn diện hay không”. Nếu chiến lược vẫn dừng lại ở việc đổ thêm bê tông, xây thêm cống ngăn triều mà không tháo điểm nghẽn thể chế, mặt bằng và quản lý sử dụng đất, 142.000 tỷ đồng có thể chỉ mua thêm vài năm tạm yên, trước khi thành phố lại chìm trong nước.

87 dự án chống ngập: cấu trúc đầu tư và những kỳ vọng thực tế
Kế hoạch chống ngập mới được chia thành hai chặng: giai đoạn 2026-2027 triển khai 54 dự án với tổng vốn hơn 69.348 tỷ đồng, dự kiến xử lý 33 vị trí ngập; phần còn lại 33 dự án được hoàn thiện trong giai đoạn 2028-2030 với khoảng 72.993 tỷ đồng, hướng tới thêm 17 vị trí ngập. Đây là thiết kế đầu tư theo lưu vực, vừa cải tạo hệ thống thoát nước vừa gắn với giao thông, nông nghiệp, di dời nhà ven kênh rạch và hạ tầng kỹ thuật – một bước tiến so với cách làm phân mảnh trước đây. Đáng chú ý, trong giai đoạn đầu, thành phố sẽ thực hiện 14 dự án duy tu bảo trì, 1 dự án ODA quy mô hơn 10.606 tỷ đồng, 6 dự án di dời nhà trên và ven kênh, 7 dự án giao thông, cùng 24 dự án hạ tầng kỹ thuật. Đến năm 2030, khoảng 20.000 căn nhà trên và ven kênh rạch được di dời, 43 dự án chỉnh trang đô thị sẽ giúp tăng khả năng thoát nước, tạo không gian công cộng và quỹ đất phát triển đô thị xanh bền vững. Theo kế hoạch, đến hết năm 2027, riêng 45 dự án hoàn thành dự kiến xử lý 30 vị trí ngập, trong đó khu TP.HCM (cũ) có 19 dự án, TP Thủ Đức (cũ) 8 dự án, Bình Dương (cũ) 14 và Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) 4, phản ánh cách tiếp cận vùng thay vì chỉ nhìn trong ranh nội đô.
Kiểm soát triều nước và sụt lún: không thể giải bài toán ngập chỉ bằng cống và đê
Trong danh mục 87 dự án, một nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu là hoàn thành Dự án giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu (giai đoạn 1), tổng vốn khoảng 10.000 tỷ đồng, bảo vệ diện tích khoảng 570 km². Khi dự án và các công trình liên quan hoàn tất, phạm vi lưu vực được bảo vệ bởi hệ thống cống kiểm soát triều sẽ được khép kín, dự kiến xử lý 8 vị trí ngập do triều tại khu phía Nam và trung tâm, đồng thời hỗ trợ tiêu thoát nước cho các khu nằm trong vùng bảo vệ. Nhưng nếu tư duy vẫn là “ngập đâu chống đó” bằng việc bê tông hóa đê kè, cống ngăn triều, thì thành phố khó có thể theo kịp biến đổi khí hậu khi mưa cực đoan và triều cường ngày càng dị thường. TP.HCM hiện có 159 điểm thường xuyên ngập nước sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, trong đó 76 điểm ở TP.HCM (cũ), 52 ở Bình Dương (cũ), 31 ở Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ). Đồng thời, thành phố đang sụt lún nhanh với áp lực khai thác nước ngầm và tải trọng xây dựng gia tăng. Giải pháp kiểm soát triều nước phải đi kèm tăng năng lực trữ nước tại chỗ: hồ điều tiết khu vực trũng thấp, hồ chứa thượng nguồn, hồ điều hòa ngầm dưới công viên, trường học, sân thể thao, bãi đỗ xe, cùng hiện đại hóa hệ thống thoát nước tại các khu đô thị hóa nhanh. Không có không gian cho nước, mọi tuyến cống đều sẽ trở thành “nút cổ chai” mỗi khi mưa lớn trùng đỉnh triều.
Điểm nghẽn hạ tầng đô thị, thể chế và mặt bằng: ưu tiên nào trước 2030?
Nhìn từ thực tế các “tọa độ ngập” dai dẳng, có ba điểm nghẽn cần được xử lý sớm nếu không muốn 87 dự án chống ngập chỉ là những bản vẽ đẹp trên giấy. Thứ nhất, hạ tầng kỹ thuật luôn đi sau đô thị hóa. Quy hoạch và danh mục dự án được cập nhật liên tục, nhưng phân kỳ đầu tư chậm cùng độ trễ triển khai khiến nhiều khu dân cư, khu công nghiệp mọc lên trên nền hệ thống thoát nước cũ kỹ, thiếu lưu vực và hồ trữ nước. Thứ hai, nút thắt giải phóng mặt bằng, đền bù, di dời và tái định cư, đặc biệt dọc kênh rạch nội đô. Những đề án tại phường Bình Đông hay chương trình di dời hàng chục nghìn căn nhà trên và ven kênh đang cho thấy nếu không có cơ chế sinh kế, nhà tái định cư phù hợp, cộng đồng sẽ khó ủng hộ, dự án thoát nước sẽ mắc kẹt trong thương lượng kéo dài. Thứ ba, cơ chế tài chính – pháp lý chưa theo kịp yêu cầu quản trị ngập lụt. Việc lấn chiếm hệ thống thoát nước, hành lang sông, kênh, rạch vẫn xảy ra; các cống xuống cấp, kênh rạch bồi lắng bị thu hẹp chưa được xử lý nhanh dù đã có chủ trương nạo vét, khơi thông. Nếu không có khung pháp lý đủ mạnh để giữ đất cho nước, mọi nỗ lực chỉnh trang đô thị sẽ bị bào mòn bởi những công trình xây dựng “điền vào chỗ trống”.
Kết luận: ưu tiên quản trị theo lưu vực, trả lại không gian cho nước
Đến năm 2030, người dân TP.HCM kỳ vọng không còn cảnh hễ mưa là ngập, hễ triều là nước dâng vào nhà, văn phòng, xưởng sản xuất. Kế hoạch 87 dự án chống ngập với hơn 142.000 tỷ đồng là cơ hội hiếm có để thành phố thiết kế lại cách sống cùng nước, thay vì chống lại nước. Muốn vậy, ưu tiên phải rất rõ ràng. Một là hoàn thành sớm các dự án kiểm soát triều nước theo lưu vực, gắn với hồ điều tiết, không gian trữ nước phân tán. Hai là đẩy nhanh các dự án di dời nhà ven kênh rạch, bảo đảm sinh kế và nhà ở thay thế để không tái lấn chiếm dòng chảy. Ba là siết chặt kỷ luật xây dựng, giữ nguyên hành lang sông, kênh, hệ thống dự án thoát nước, đồng thời ứng dụng công nghệ để xây dựng hệ thống thoát nước thông minh kết nối dữ liệu mưa, triều, mực nước, van, cống, trạm bơm. Nếu TP.HCM dám chuyển trọng tâm từ “chống ngập TP.HCM” sang “quản trị ngập lụt” dựa trên hạ tầng đô thị thích ứng và thể chế cứng rắn với việc lấn chiếm không gian nước, 142.000 tỷ đồng sẽ không chỉ là con số, mà là bước ngoặt cho một đô thị sống được với biến đổi khí hậu.






