Từ yêu cầu “dứt điểm trong tháng 9” đến thông điệp về an ninh năng lượng
Chủ đề chính của bài viết này là phân tích những vướng mắc thể chế đang làm chậm hai nhà máy điện Cần Thơ – Ô Môn 2 và Sông Hậu 2 – cùng với yêu cầu rất rõ ràng của Chính phủ phải xử lý dứt điểm trong tháng 9 để bảo đảm an ninh năng lượng cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Chiều 12/9, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trực tiếp kiểm tra công trường và làm việc về tiến độ các dự án Long Phú 1, Sông Hậu 2, Ô Môn 3, Ô Môn 4 trên địa bàn Cần Thơ, trước khi đưa ra chỉ đạo yêu cầu xử lý dứt điểm các vấn đề tồn tại của Ô Môn 2 và Sông Hậu 2 ngay trong tháng 9. Đây không chỉ là động thái kỹ thuật về tiến độ, mà là một tín hiệu chính trị rõ ràng: các nút thắt về hợp đồng, thủ tục và mặt bằng đã đến giới hạn chịu đựng và không thể tiếp tục kéo dài.
Theo Phó Thủ tướng, mốc phát điện năm 2030 của Sông Hậu 2 phải được bảo đảm vì đây là nguồn bổ sung quan trọng cho phát triển công nghiệp và tăng trưởng vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Khi nhóm nhà máy điện Cần Thơ – từ Ô Môn 1-4 gắn với chuỗi khí điện Lô B đến Sông Hậu 2 – bị chậm, điều đó đồng nghĩa với việc “đặt cược” an ninh năng lượng Đồng bằng sông Cửu Long vào các quyết định pháp lý và điều phối giữa bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp.
Ô Môn 2 và Sông Hậu 2: hai mắt xích lớn bị kìm bởi hợp đồng và thủ tục
Ô Môn 2 Sông Hậu 2 là hai dự án nguồn điện lớn nhưng lại cùng mắc vào một kiểu rào cản: thủ tục kéo dài, hợp đồng chưa chốt, nhà đầu tư thay đổi. Ô Môn 2 có công suất 1.050MW và là một phần trong chuỗi khí điện Lô B – Ô Môn, sử dụng khí từ mỏ Lô B ngoài khơi Tây Nam, được phát triển bởi liên danh Vietracimex và Marubeni Corporation. Trong khi đó, Sông Hậu 2 công suất 2.120MW, từng triển khai theo hình thức BOT, nhưng hợp đồng BOT với nhà đầu tư Toyo Ink Group đã bị chấm dứt do chậm tiến độ và chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
Hệ quả là đến nay, Sông Hậu 2 vẫn đang trong giai đoạn xử lý các vướng mắc về thủ tục, dù mục tiêu phát điện đã được Chính phủ ấn định là năm 2030. Còn với Ô Môn 2, dự án bị kéo theo cả chuỗi khí điện Lô B khi các hợp đồng mua bán khí, mua bán điện chưa hoàn tất và một số vấn đề về thỏa thuận giá điện, chi phí cố định, cam kết bao tiêu chưa được giải quyết. Câu chuyện ở đây không chỉ là chậm trễ hành chính, mà là rủi ro hệ thống: một mắt xích bị nghẽn có thể làm trì hoãn cả chuỗi hạ tầng năng lượng tỷ đô.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương, nhà đầu tư và các cơ quan liên quan phối hợp giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn tại trong tháng 9, khẩn trương hoàn tất thủ tục để sớm triển khai dự án. Câu nói này có thể được trích dẫn như một thông điệp chính thức: “Trong tháng 9 phải xử lý dứt điểm những vấn đề còn tồn tại của Ô Môn 2 và Sông Hậu 2 để dự án sớm triển khai”.

Chuỗi khí điện Lô B – Ô Môn: synchron hoá từ thượng nguồn đến nhà máy
Nếu Sông Hậu 2 cho thấy rủi ro khi một dự án BOT không thể khởi công, thì chuỗi khí điện Lô B – Ô Môn lại nhắc chúng ta rằng an ninh năng lượng Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào khả năng phát triển đồng bộ từ khai thác khí, đường ống đến các nhà máy điện. Chuỗi này đang ở giai đoạn phải khớp tiến độ: khí từ Lô B, tuyến ống đưa khí vào bờ, và các nhà máy Ô Môn 1, 2, 3, 4.
Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Petrovietnam, Ô Môn 1 công suất 660MW đang được chuẩn bị chuyển sang sử dụng khí Lô B, Ô Môn 4 công suất 1.155MW đã khởi công và đang triển khai thiết kế, mua sắm, xây lắp, còn Ô Môn 3 công suất 1.050MW đã hoàn tất thủ tục chuẩn bị đầu tư và đang đánh giá gói thầu EPC. Petrovietnam cho biết tiến độ thượng nguồn Lô B đang có tín hiệu tích cực, tuyến đường ống dẫn khí cũng được triển khai, nhưng toàn chuỗi vẫn phụ thuộc vào việc xử lý hợp đồng mua bán khí – điện và giải phóng mặt bằng.
Việc Cần Thơ và An Giang được yêu cầu khẩn trương xử lý phần mặt bằng còn lại của tuyến đường ống cho thấy hạ tầng năng lượng không thể “cứng một đoạn, mềm một đoạn”. Chủ tịch UBND Cần Thơ khẳng định phần lớn mặt bằng phục vụ chuỗi khí điện Lô B – Ô Môn đã được bảo đảm và cam kết sẽ xử lý dứt điểm các trường hợp còn lại. An ninh năng lượng Đồng bằng sông Cửu Long, vì thế, đang gắn chặt với năng lực phối hợp giữa trung ương – địa phương và giữa ngành điện, ngành dầu khí.
Áp lực tiến độ và bài kiểm tra năng lực điều phối nhà nước
Cuộc kiểm tra của Phó Thủ tướng tại Cần Thơ không chỉ điểm danh Ô Môn 2 Sông Hậu 2, mà còn đặt Long Phú 1, Ô Môn 3, Ô Môn 4 dưới “kính hiển vi” thời gian. Long Phú 1 từng bị đình trệ nhiều năm do tổng thầu EPC nước ngoài chấm dứt hợp đồng liên quan đến cấm vận, buộc Petrovietnam phải tái triển khai bằng cách phân tách phần việc còn lại thành các gói thầu. Mục tiêu đưa tổ máy số 1 vận hành năm 2027 được chính Petrovietnam đánh giá là “rất thách thức”.
Ở Ô Môn 4, dù đã khởi công và có nhà thầu EPC, dự án vẫn vướng thỏa thuận giá điện, chi phí cố định, cam kết bao tiêu và mặt bằng tuyến ống. Ô Môn 3 đang trong khâu lựa chọn nhà thầu EPC, với kế hoạch nhận khí Lô B từ cuối năm 2029 và vận hành thương mại năm 2030. Khi nhìn toàn bộ bức tranh, có thể thấy năng lực điều phối nhà nước – từ xử lý quan hệ với tổng thầu nước ngoài, hoàn thiện khung giá điện – khí đến giải phóng mặt bằng – đang là biến số quyết định việc các nhà máy điện Cần Thơ có “kịp giờ” cho mục tiêu an ninh năng lượng vùng hay không.
Một câu có thể trích dẫn ở đây là: “Chuỗi khí – điện Lô B – Ô Môn hiện cũng bước vào giai đoạn phải khớp tiến độ giữa khai thác khí, đường ống và các nhà máy điện”. Khớp tiến độ không chỉ là việc của doanh nghiệp, mà là bài kiểm tra khả năng Chính phủ xử lý đa tầng các vấn đề hợp đồng, pháp lý, kỹ thuật trong một khung thời gian đã được công khai.
Kết luận: muốn bảo đảm an ninh năng lượng Đồng bằng sông Cửu Long phải gỡ nút thắt thể chế
Thông điệp rõ nhất từ chỉ đạo “dứt điểm trong tháng 9” với Ô Môn 2 và Sông Hậu 2 là: bài toán an ninh năng lượng Đồng bằng sông Cửu Long hiện không nằm ở thiếu dự án, mà ở khả năng gỡ nút thắt thể chế quanh các nhà máy điện Cần Thơ. Các con số công suất hàng nghìn MW, mốc vận hành 2027–2030 sẽ chỉ là dự báo trên giấy nếu hợp đồng khí – điện chưa xong, giá điện chưa chốt, mặt bằng tuyến ống chưa sạch.
Việc Phó Thủ tướng trực tiếp đi kiểm tra, yêu cầu Bộ Công Thương, PVN, EVN cùng địa phương hoàn thành phần việc của mình cho thấy Chính phủ nhận diện khá rõ những điểm nghẽn. Vấn đề còn lại là các bên có biến được yêu cầu chính trị thành hành động cụ thể – ký được hợp đồng, chốt được cơ chế giá, bàn giao được mặt bằng – trong khung thời gian đề ra hay không. Nếu làm được, Đồng bằng sông Cửu Long sẽ có nền tảng điện – khí mạnh hơn để đi vào giai đoạn tăng trưởng mới. Nếu không, nguy cơ thiếu hụt nguồn điện và lệ thuộc vào nguồn ngoài vùng sẽ tiếp tục treo lơ lửng trên mọi chiến lược phát triển.






